Vốn đắt đỏ bóp nghẹt dư địa tăng trưởng của doanh nghiệp

Lãi suất cho vay tăng, tài sản không đủ điều kiện thế chấp và những rào cản trong thẩm định tín dụng đang khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào thế khó: không vay thì thiếu vốn sản xuất, vay được lại phải chật vật bảo toàn lợi nhuận.

Với một doanh nghiệp cơ khí có thể mất từ sáu tháng đến một năm để hoàn thành một hợp đồng, lãi suất không đơn thuần là một khoản chi phí tài chính. Nó có thể quyết định liệu hợp đồng đó còn đáng để thực hiện hay không.

Công ty CP Sáng Ban Mai, doanh nghiệp nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực cơ khí – chế tạo tại TP.HCM, chuyên sản xuất và lắp ráp máy phát điện công suất lớn, đạt doanh thu bình quân 200–250 tỷ đồng mỗi năm, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 1 triệu USD. Nhưng đằng sau quy mô doanh thu này là biên lợi nhuận gộp chỉ khoảng 15–17% cho mỗi hợp đồng, trong khi thời gian thực hiện có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí vài năm đối với những dự án lớn.

“Biên lợi nhuận vốn đã mỏng, nếu lãi suất vay vượt 10%/năm thì gần như doanh nghiệp làm không còn lãi. Làm mà không có lợi nhuận thì lấy đâu động lực để tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất?”, ông Trần Thành Trọng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Sáng Ban Mai, chia sẻ.

Theo ông Trọng, để hoạt động sản xuất thực sự phục hồi và phát triển, lãi suất cho vay cần giảm xuống dưới 10%/năm.

"Với những ngành phải bỏ vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài như cơ khí - chế tạo, chi phí vay không chỉ là một khoản chi thêm mà còn có thể quyết định doanh nghiệp có dám nhận hợp đồng mới, duy trì sản xuất và đầu tư cho chặng đường tiếp theo hay không", ông Trọng chia sẻ.

Đây không phải khó khăn riêng của ngành cơ khí. Khi chi phí vốn tăng trong lúc doanh nghiệp cần đẩy mạnh sản xuất, dự trữ hàng hóa và chuẩn bị cho mùa kinh doanh cuối năm, áp lực lãi vay nhanh chóng lan sang dòng tiền và kế hoạch đầu tư.

Ông Nguyễn Quốc Kỳ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Du lịch Vietravel, cho biết lãi suất huy động trong một năm qua đã tăng từ khoảng 4% lên 6%, thậm chí có khoản lên gần 7%, cá biệt gần 10%/năm. Nhu cầu vốn gia tăng trong khi nguồn vốn khan hiếm hơn đang tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất cho vay.

Theo ông Kỳ, lãi suất cho vay tại nhóm ngân hàng Big4 đã tăng 1,8–2,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi một số ngân hàng cổ phần áp dụng mức trên 10%/năm. Với doanh nghiệp, tác động không chỉ nằm ở chi phí vay tăng thêm, mà còn ở phần lợi nhuận bị thu hẹp đúng thời điểm cần tăng tốc kinh doanh.

“Không vay thì không có vốn, mà vay thì bào mòn hết lãi. Đây là điều doanh nghiệp đau đầu”, ông Kỳ nói.

Ông cho rằng mức lãi suất cho vay khoảng 6–7%/năm như năm 2025 sẽ phù hợp hơn, giúp doanh nghiệp có dư địa tích lũy, duy trì hoạt động và đóng góp ngân sách. Trong ba tháng cuối năm, doanh nghiệp kỳ vọng có thêm các gói tín dụng hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng, cùng cơ chế cho vay linh hoạt hơn.

Áp lực càng đáng kể khi ngay cả những biến động nhỏ của lãi suất cũng có thể tích lũy thành khoản chi phí lớn đối với doanh nghiệp có dư nợ cao hoặc chu kỳ kinh doanh kéo dài. Khi biên lợi nhuận đã mỏng, khả năng hấp thụ chi phí vốn tăng thêm trở nên hạn chế, khiến kế hoạch mở rộng sản xuất dễ bị trì hoãn.

Khi tài sản không chuyển hóa được thành vốn

Chi phí vay cao chỉ là một nửa của vấn đề. Với nhiều doanh nghiệp, khó khăn bắt đầu ngay từ khâu tiếp cận tín dụng, khi khả năng vay vốn vẫn phụ thuộc đáng kể vào tài sản bảo đảm và tình trạng pháp lý của tài sản đó.

Trường hợp Công ty CP Chế biến xuất nhập khẩu thủy sản Vũng Tàu (Baseafood) cho thấy một nghịch lý: doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh thực chất và quy mô xuất khẩu lớn vẫn có thể gặp khó trong việc chuyển hóa tài sản thành nguồn vốn phục vụ sản xuất.

Baseafood đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 60 triệu USD mỗi năm, sử dụng 1.000 lao động và đã đầu tư hơn 100 tỷ đồng xây dựng ba nhà máy tại xã Phước Hải từ năm 2017. Tuy nhiên, sau tám năm, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất, dù dự án đã có chủ trương đầu tư và quyết định giao đất.

Vướng mắc pháp lý khiến khối tài sản nhà xưởng không thể trích khấu hao, đồng thời chưa đủ điều kiện để thế chấp vay vốn ngân hàng theo quy trình thông thường.

“Nếu ngân hàng chỉ nhìn vào tài sản bảo đảm truyền thống để cho vay, chúng tôi chỉ được cấp hạn mức 12 tỷ đồng, một con số không đủ chi trả chi phí vận hành trong vài tuần. May mắn là Vietcombank thấu hiểu lịch sử hoạt động 50 năm và kiểm soát được dòng tiền thực tế để tài trợ 50% nhu cầu vốn, nếu không doanh nghiệp đã đứt gãy thanh khoản”, ông Trần Văn Dũng, Chủ tịch HĐQT Baseafood chia sẻ.

Chế biến hải sản tại Baseafood. Ảnh: DNCC

Chế biến hải sản tại Baseafood. Ảnh: DNCC

Vấn đề ở đây không chỉ là một thủ tục đất đai kéo dài. Khi tài sản đã được đầu tư vào nhà xưởng nhưng chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý, doanh nghiệp khó sử dụng chính nguồn lực đó để tiếp cận tín dụng. Vốn bị khóa trong tài sản, trong khi nhu cầu vốn lưu động vẫn phát sinh hằng ngày để mua nguyên liệu, trả lương và duy trì sản xuất.

Trường hợp Baseafood cũng cho thấy vai trò của năng lực thẩm định tín dụng. Việc đánh giá lịch sử hoạt động, dòng tiền và khả năng trả nợ có thể mở ra phương án tài trợ cho doanh nghiệp ngay cả khi tài sản bảo đảm chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí thông thường. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đòi hỏi ngân hàng có đủ dữ liệu, năng lực phân tích và cơ chế kiểm soát rủi ro phù hợp.

Nếu không, doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tốt vẫn có thể bị hạn chế tiếp cận vốn, trong khi ngân hàng phải đối diện với nguy cơ tập trung tín dụng vào những loại tài sản bảo đảm quen thuộc.

Khơi thông dòng vốn không thể chỉ dựa vào giảm lãi suất

Nhận diện áp lực chi phí vốn đang đè nặng lên doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai các biện pháp nhằm hạ mặt bằng lãi suất và hỗ trợ tín dụng cho những lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng.

Tại Hội nghị “Ngành Ngân hàng đồng hành khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026 - 2030”, ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó vụ trưởng phụ trách Vụ Tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước, cho biết ngày 18/10/2026, cơ quan này ban hành công văn số 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi niêm yết với kỳ hạn từ sáu tháng trở lên, nhằm chấm dứt cuộc đua lãi suất huy động.

Các ngân hàng đồng thời được chỉ đạo giảm 1,5–2 điểm phần trăm/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các động lực tăng trưởng.

Một nguồn lực khác là gói tín dụng 409.000 tỷ đồng của 19 ngân hàng thương mại, với lãi suất ưu đãi thấp hơn ít nhất 1 điểm phần trăm/năm so với mức thông thường. Gói vốn hướng đến các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao và xuất khẩu.

Đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn, Ngân hàng Nhà nước cũng thiết lập cơ chế loại trừ hoặc cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng cho 35 dự án trọng điểm quốc gia, với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng. Trong đó, 15 dự án tại Đông Nam Bộ chiếm 757.000 tỷ đồng, bao gồm các công trình như metro Bến Thành – Cần Giờ, đường sắt đô thị Thủ Thiêm – Long Thành và vành đai 4.

Đến hết quý III/2026, các ngân hàng đã bước đầu giải ngân 39.322 tỷ đồng cho hai dự án trọng điểm.

Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Ảnh: Uyên Phương.

Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Ảnh: Uyên Phương.

Những biện pháp này có thể giúp giảm áp lực chi phí vốn và mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng. Tuy nhiên, giảm lãi suất hay tăng hạn mức cho vay không đồng nghĩa dòng vốn sẽ tự động đến được những doanh nghiệp cần vốn nhất.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh rằng vốn ngân hàng là nguồn vốn phải hoàn trả, trong khi các tổ chức tín dụng luôn phải đặt an toàn hệ thống lên hàng đầu. Vì vậy, bài toán khơi thông tín dụng không thể chỉ được giải quyết bằng yêu cầu ngân hàng nới lỏng điều kiện cho vay.

"Điều quan trọng hơn là phải tháo gỡ đồng thời ba nút thắt về thể chế địa phương, năng lực của doanh nghiệp và khẩu vị rủi ro của ngân hàng", ông Ấn nói.

Ba nút thắt này có mối liên hệ chặt chẽ. Thủ tục đất đai, quy hoạch và giải phóng mặt bằng kéo dài có thể khiến một dự án không đủ điều kiện giải ngân. Năng lực quản trị yếu và báo cáo tài chính thiếu minh bạch làm tăng chi phí thẩm định, khiến ngân hàng khó đánh giá chính xác khả năng trả nợ. Trong khi đó, nếu phương thức đánh giá tín dụng phụ thuộc quá nhiều vào tài sản bảo đảm truyền thống, những doanh nghiệp có dòng tiền tốt nhưng thiếu tài sản đủ điều kiện thế chấp sẽ khó tiếp cận vốn.

Theo ông Ấn, chính quyền các địa phương vùng Đông Nam Bộ cần giải quyết dứt điểm các vướng mắc về thủ tục đất đai, quy hoạch và giải phóng mặt bằng. Việc tháo gỡ pháp lý không chỉ giúp dự án được triển khai mà còn làm giảm những rủi ro có thể ngăn cản ngân hàng giải ngân.

Ở phía ngân hàng, yêu cầu đặt ra là chuyển dần từ mô hình cho vay dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang thẩm định dựa trên dữ liệu giao dịch, quan hệ chuỗi cung ứng và dòng tiền hoạt động thực chất. Mở rộng danh mục tài sản cho thuê tài chính sang phần mềm, tài sản trí tuệ và quyền khai thác dữ liệu cũng là hướng đi cần được tính đến.

Nhưng sự thay đổi không thể chỉ đến từ phía tổ chức tín dụng. Doanh nghiệp cần chuẩn hóa năng lực quản trị, minh bạch báo cáo tài chính và xây dựng phương án kinh doanh khả thi để chứng minh khả năng sử dụng vốn hiệu quả.

"Nếu thiếu tính minh bạch, doanh nghiệp không thể đòi hỏi ngân hàng hạ chuẩn cấp vốn", ông nhấn mạnh.

Quốc Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/von-dat-do-bop-nghet-du-dia-tang-truong-cua-doanh-nghiep-d48233.html