'Vọng văn sinh nghĩa' và 'Vọng văn vấn thiết'
Độc giả Lê Giảng (Hạc Thành - Thanh Hóa) hỏi: 'Trong bài 'Về cách giảng chữ 'trọng' trong từ 'trọng tài' trong Tầm nguyên từ điển của Lê Văn Hòe', tác giả Mẫn Nông có nhắc đến câu 'Vọng văn sinh nghĩa'. Cụ thể, ông nhận xét: 'Nguyên nhân có lẽ là do tác giả 'vọng văn sinh nghĩa', dựa vào sự đồng âm của các yếu tố Hán Việt để suy diễn ý nghĩa mà không đối chiếu văn tự gốc'. Về đại ý câu này thì tôi hiểu, nhưng hiểu một cách thấu đáo thì chưa. Tôi cũng chợt nhớ đến một câu khác mà trong Đông y hay dùng, đó là 'Vọng văn vấn thiết'. Vậy đề nghị chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa giải thích một cách tường tận khái niệm 'Vọng văn sinh nghĩa' và 'Vọng văn vấn thiết' để tôi và độc giả được biết.

Trân trọng cảm ơn”.
Trả lời: Độc giả Lê Giảng đã đặt ra câu hỏi khá thú vị. Sau đây chúng tôi xin lần lượt giải thích từng khái niệm.
1. “Vọng văn sinh nghĩa”
“Vọng văn sinh nghĩa” 望文生義 (dị bản Vọng văn sinh huấn - 望文生訓), là một thành ngữ gốc Hán. Trong đó “vọng” 望 có nghĩa là nhìn, “văn” 文 là văn tự, chữ viết, “sinh” 生 là tạo ra, “nghĩa” 義 là ý nghĩa của từ ngữ (đồng nghĩa với chữ “huấn” 訓 = giải thích ý nghĩa của văn tự).
“Vọng văn sinh nghĩa” được Hán ngữ đại từ điển giảng là: “Bất thôi cầu từ cú đích xác thiết hàm nghĩa, chỉ tòng tự diện thượng khứ phụ hội, tác xuất thác ngộ đích giải thích” (不推求詞句的確切涵義, 只從字面上去附會, 作出錯誤的解釋), nghĩa là: Không truy cứu ý nghĩa chính xác của từ ngữ, câu văn, mà chỉ nhìn vào mặt chữ để suy diễn, từ đó đưa ra cách giải thích sai lầm.
Hán ngữ đại từ điển dẫn chứng:
- Đời Thanh, Diệp Đình Quán trong Xuy võng lục, thiên Sai lầm “vọng văn sinh nghĩa” trong chú giải của Hồ thị, viết: “Xưa, Cố Giản Ông cho rằng Mai Giản tuy tinh thông các sách thuộc bộ Ất (tức kinh sử thư tịch), nhưng đôi khi vẫn mắc lỗi “vọng văn sinh nghĩa”, nên xa rời ý nghĩa và sự thực vốn có”.
- Trương Chi Động trong Du Hiên ngữ - Ngữ học viết: “Chỉ bàn luận suông, suy đoán theo ý riêng, rồi vọng văn sinh nghĩa”.
Hồ Thích trong Phương pháp trị học của các học giả đời Thanh viết: “Ví dụ về vọng văn sinh nghĩa là câu trong Lão Tử: Hành ư đại đạo, duy thi thị úy (行於大道,唯施是畏). Vương Bật và Hà Thượng Công đều hiểu chữ 施 là thi vi (施為), tức “hành động, thi hành”. Tuy nhiên, Vương Niệm Tôn chứng minh rằng chữ “thi” (施) ở đây phải đọc và hiểu là “di” 迆, với nghĩa là “tà” 邪 (xiên, lệch lạc): Đi theo đại đạo, điều sợ nhất là đi chệch khỏi nó.
Đó là hiện tượng “vọng văn sinh nghĩa” trong Hán ngữ.
Đối với tiếng Việt viết bằng chữ Quốc ngữ, tác hại của “vọng văn sinh nghĩa” còn nặng nề hơn, bởi nhiều từ Hán Việt đồng âm nhưng khác hẳn về tự hình và ý nghĩa. Ví dụ, Vân Hạc Lê Văn Hòe chỉ nhìn mặt chữ “trọng tài” (ghi bằng Quốc ngữ) rồi suy đoán chữ “trọng” ở đây có nghĩa là “nặng”, rồi giảng: “Trọng tài là xem xét, phán đoán xem cán cân bên nào nặng, bên nào nhẹ”. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Bởi nếu chỉ “vọng văn” (nhìn mặt chữ), thì tuy cùng đọc là “trọng”, nhưng “trọng” trong “trọng tài” không phải là chữ “trọng” với tự hình 重 (nặng), mà là “trọng” tự hình 仲 (ở giữa). Trọng tài 仲裁 có nghĩa là “đứng giữa để phân xử”, “làm trung gian để quyết định sự tranh chấp”.
Một ví dụ khác. Mục “phiền phức”, Lê Văn Hòe giảng: “PHIỀN là nhiều, đông. PHỨC là tay hoa xe. Phiền-phức là nhiều và rắc-rối như tay hoa xe vậy”. Tuy nhiên, chữ “phức” trong “phiền phức” không phải là “phức” 輻 (bộ xa 車), với nghĩa “tay hoa xe” (tức nan hoa xe), mà là chữ “phức” có tự hình là 複 (bộ y 衤). Chữ “phức” 複 vốn có nghĩa gốc là “áo kép”, “áo lót hai lớp” (phức y 複衣), tức có nhiều lớp vải chồng lên nhau. Từ nghĩa “áo hai lớp”, chữ “phức” 複 phát triển thành nghĩa rộng, chỉ sự chồng chất, nhiều tầng, rườm rà (như trong các từ: phức hợp; phức hệ; câu đơn, câu phức).
Ta có thể lấy ngay hai chữ “vọng văn” trong hai câu “Vọng văn sinh nghĩa” và “Vọng văn vấn thiết” làm ví dụ. “Vọng” 望 trong hai câu này đều có nghĩa là nhìn. Tuy nhiên, “văn” trong “Vọng văn sinh nghĩa” có tự hình là 文, nghĩa là “văn tự”; còn “văn” trong “Vọng văn vấn thiết” lại có tự hình là 聞, có nghĩa là “nghe, ngửi”.
Qua những ví dụ trên có thể thấy, “vọng văn sinh nghĩa” không chỉ là một lỗi trong việc giải thích Hán ngữ, mà còn là một căn bệnh khá phổ biến khi nghiên cứu tiếng Việt, nhất là đối với các từ Hán Việt được ghi bằng chữ Quốc ngữ. Chỉ cần nhìn mặt chữ mà không đối chiếu với văn tự gốc, ngữ cảnh và quá trình phát triển nghĩa của từ, người nghiên cứu rất dễ đi đến những kết luận sai lầm. Còn “vọng văn vấn thiết” là gì? Bốn chữ ấy có ý nghĩa ra sao và vì sao lại trở thành tên gọi của bốn phép chẩn đoán trong Đông y? Xin mời bạn đọc đón xem bài 2: “Vọng văn vấn thiết” trong chuyên mục Cà kê chuyện chữ nghĩa số tiếp theo.
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/vong-van-sinh-nghia-nbsp-va-vong-van-van-thiet-292477.htm












