Xăng không chì, diesel sắp hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi 0%
Xăng không chì, diesel và một số nguyên liệu sản xuất xăng dầu được Bộ Tài chính tính toán điều chỉnh mức thuế nhập khẩu ưu đãi bằng 0% nhằm góp phần đảm bảo nguồn cung xăng dầu.
Thuế MFN 0% để mở rộng nguồn cung
Bộ Tài chính vừa hoàn thiện dự thảo nghị định sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (thuế MFN) đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu sản xuất xăng dầu, theo đề xuất của Bộ Công Thương.
Nội dung đáng chú ý là đưa thuế MFN về mức 0% đối với xăng động cơ không chì, nhiên liệu diesel và một số nhiên liệu khác. Nếu được thông qua, nghị định dự kiến có hiệu lực từ ngày ký đến hết ngày 30/4/2026. Theo tính toán của Bộ Tài chính, chính sách này có thể làm giảm thu ngân sách khoảng 1.024 tỷ đồng, dựa trên kim ngạch nhập khẩu năm 2025.
Đề xuất được đưa ra trong bối cảnh thị trường dầu mỏ toàn cầu đối mặt nhiều rủi ro địa chính trị, đặc biệt tại Trung Đông. Eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển khoảng 20 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương gần 1/5 thương mại dầu mỏ thế giới – đang trở thành điểm nghẽn tiềm tàng đối với chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu.

Các mặt hàng đề xuất áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi về mức 0% điển hình gồm xăng động cơ không pha chì, nhiên liệu diesel, nhiên liệu động cơ máy bay. Ảnh: Hoàng Anh.
Những bất ổn này khiến nhiều nhà máy lọc dầu châu Á phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất, tăng sử dụng dự trữ hoặc hạn chế xuất khẩu sản phẩm. Giá xăng dầu tại Singapore – thị trường tham chiếu của khu vực – cũng biến động mạnh, làm gia tăng áp lực nguồn cung trong khu vực.
Đáng chú ý, bộ cho biết, một số nhà máy lọc dầu trong nước cũng gặp khó khăn khi nguồn cung dầu thô từ nước ngoài có nguy cơ thiếu hụt dẫn đến khó thực hiện được hợp đồng giao hàng hiện hữu. Các nhà cung cấp trong khu vực cũng đang xem xét tuyên bố bất khả kháng nếu tình trạng trên kéo dài khiến các nhà máy lọc dầu không có đủ nguồn dầu thô.
Hiện nguồn nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam chủ yếu đến từ ASEAN và Hàn Quốc – các thị trường được hưởng thuế suất 0% theo các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tuy nhiên, khi nguồn cung khu vực trở nên căng thẳng, khả năng tiếp cận nguồn hàng từ các thị trường này có thể bị hạn chế.
Trong bối cảnh đó, việc đưa thuế MFN về 0% được xem là công cụ chính sách nhằm mở rộng khả năng nhập khẩu từ các thị trường ngoài FTA, giúp doanh nghiệp đầu mối linh hoạt hơn trong tìm kiếm nguồn cung và giảm rủi ro gián đoạn thị trường.
Trước đó, năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định 51, giảm thuế MFN đối với xăng động cơ không pha chì (xăng không chì) từ 20% xuống 10%. Khi đó, Bộ Tài chính đánh giá tác động ngân sách không lớn do phần lớn xăng nhập khẩu đến từ các thị trường FTA vốn đã có thuế suất thấp hơn MFN. Tuy nhiên, việc điều chỉnh thuế vẫn mở ra thêm lựa chọn nguồn cung cho doanh nghiệp nhập khẩu.
Áp lực tái cấu trúc dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn
Bên cạnh các giải pháp thuế nhằm đa dạng hóa nguồn cung xăng dầu, việc điều chỉnh thuế nhập khẩu cũng đặt ra vấn đề liên quan đến các cam kết của Chính phủ đối với dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP).
Theo Bộ Tài chính, đối với một số mặt hàng xăng dầu mà Chính phủ đã cam kết về thuế nhập khẩu trong Bản thỏa thuận cam kết và bảo lãnh của Chính phủ (GGU) dành cho dự án, cần có phương án xử lý phù hợp để tránh phát sinh nghĩa vụ thanh toán từ phía Nhà nước.
Vì vậy, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Công thương làm việc và đàm phán với nhà đầu tư Nghi Sơn nhằm hạn chế khả năng Chính phủ phải thực hiện khoản thanh toán chênh lệch theo các cam kết trong GGU.
Trước đó, Nghị quyết 42/2021 của Quốc hội cho phép Tập đoàn Công nghiệp năng lượng quốc gia Việt Nam (PVN) sử dụng lợi nhuận sau thuế để xử lý một số nghĩa vụ tài chính liên quan đến dự án, đồng thời Chính phủ báo cáo Quốc hội khi lập và thực hiện dự toán ngân sách. Năm 2022, Nghị định 85 tiếp tục quy định cơ chế xử lý tài chính cho PVN đối với các khoản chênh lệch phát sinh từ công thức giá trong hợp đồng bao tiêu sản phẩm của nhà máy.
Tháng 11/2023, Thủ tướng cũng đã chỉ đạo tái cấu trúc toàn diện dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn – dự án trị giá khoảng 9 tỷ USD, công suất chế biến 10 triệu tấn dầu thô mỗi năm và đi vào vận hành thương mại từ cuối năm 2018. Chương trình tái cấu trúc tập trung vào ba trụ cột gồm quản trị, tài chính và hoạt động sản xuất – kinh doanh nhằm cải thiện hiệu quả vận hành của nhà máy trong dài hạn.
Hiện NSRP hoạt động theo mô hình liên doanh với các đối tác Nhật Bản và Kuwait, trong đó bộ máy quản lý chủ yếu do phía nước ngoài đảm nhiệm. Dự án cũng được hưởng nhiều ưu đãi về thuế và hạ tầng, trong đó PVN đã ứng trước khoảng 3.780 tỷ đồng để đầu tư hạ tầng.
Tính đến hết tháng 9/2023, nhà máy đã chế biến khoảng 45 triệu tấn dầu thô, sản xuất 37 triệu tấn sản phẩm. Trong 10 tháng đầu năm 2023, sản lượng đạt gần 6 triệu tấn, tương đương 83% kế hoạch. PVN đã bao tiêu gần 28 triệu tấn sản phẩm từ nhà máy.
Các mặt hàng đề xuất áp dụng thuế MFN 0% điển hình gồmxăng động cơ không pha chì (hiện 10%), nhiên liệu diesel, nhiên liệu động cơ máy bay (hiện 7%) và một số nguyên liệu sản xuất xăng dầu.













