Xây dựng chính sách riêng với thuốc bảo vệ thực vật sinh học
Việc xây dựng chính sách riêng với thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong Luật Trọt và Bảo vệ Thực vật sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng thúc đẩy chuyển dịch nông nghiệp theo hướng xanh và bền vững.

Chủ tịch VPA Nguyễn Văn Sơn phát biểu tại buổi góp ý Luật Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
Đây là đề xuất của nhiều chuyên gia tại buổi góp ý sửa Luật Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật do Hội Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh Thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam (VIPA) và Tổ chức quốc tế Croplife Việt Nam phối hợp tổ chức chiều 24/8.
Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch VIPA Nguyễn Văn Sơn cho biết thuốc bảo vệ thực vật sinh học là thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc tự nhiên được sử dụng trong phòng trừ sinh vật gây hại với ưu điểm ít hoặc không tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời để lại ít hoặc không có dư lượng độc hại. Trên thế giới, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học là xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng mục tiêu vừa đảm bảo an ninh nông nghiệp, vừa thúc đẩy chuyển dịch sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh, giảm phát thải và bảo vệ sức khoẻ con người, môi trường.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật sinh học vẫn bị “đánh đồng” với thuốc bảo vệ thực vật hoá học do chưa có quy định cụ thể tại Luật Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật. Theo đó, thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại Việt Nam vẫn được xếp vào danh mục sản phẩm hàng hóa có mức độ rủi ro cao (các mặt hàng có khả năng gây nguy hại lớn hoặc hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, an toàn con người và môi trường). Đây là quy định khác biệt với thông lệ quốc tế và đang gây khó khăn cho việc phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại Việt Nam, Chủ tịch VIPA nhấn mạnh

Giáo sư-Tiến sĩ Phạm Văn Toản- nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại buổi góp ý kiến cho việc sửa Luật Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
Đồng tình với quan điểm này, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Toản- nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho biết, đến thời điểm này, Việt Nam vẫn chưa có hành lang pháp lý chuyên biệt dành riêng cho thuốc bảo vệ thực vật sinh học nên về cơ bản, quy trình đăng ký lưu hành và cơ chế quản lý đối với loại vật tư nông nghiệp này vẫn đang áp dụng tương tự như thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Cụ thể, doanh nghiệp vẫn phải trải qua quy trình khảo nghiệm, xét duyệt hồ sơ phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí.
Một điểm nghẽn khác nằm ở sự thiếu vắng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ. Trên thực tế, quy chuẩn QCVN 01-188:2018 đang áp dụng hiện nay có đề cập đến chỉ tiêu chất lượng thuốc sinh học nhưng nội dung chưa đủ chi tiết, còn thiếu tính khả thi. Mặt khác, các tiêu chuẩn quốc gia hiện hành về thuốc vi sinh vật đang bộc lộ những bất cập khi chỉ thiên về đánh giá hình thức (định danh, đo lường mật độ vi sinh vật) mà bỏ ngỏ một yếu tố mang tính quyết định đó là khả năng và hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại.
Vì vậy, việc sửa Luật Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tới đây cần định nghĩa rõ hơn, chính xác hơn khái niệm thuốc bảo vệ thực vật sinh học cũng như các nhóm thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Bên cạnh đó, việc sửa Luật cần bổ sung thêm chính sách khuyến khích, thúc đẩy việc sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Một minh chứng rõ nét là nhiều nước trên thế giới hiện có chính sách đặc cách với các đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu về vi sinh vật có ích trong nông nghiệp.
Tại Việt Nam, quy định đặc cách này đã từng tồn tại với các đề tài nghiên cứu khoa học (từ cấp Bộ trở lên) đã được nghiệm thu nhưng từ năm 2013 đã bị chấm dứt. Hiện các nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu về vi sinh vật có ích vẫn phải tốn thời gian, chi phí khi muốn đăng ký Danh mục thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Đây là điểm bất cập gây lãng phí ngân sách nên trong lần sửa Luật Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tới đây cần khôi phục lại quy định đặc cách này như trong lĩnh vực phân bón đang áp dụng, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Toản đề xuất.
Ngoài ra việc sửa Luật Trồng trọt và Thuốc bảo vệ thực vật cần tiến hành sửa đồng bộ với Luật Tiêu chuẩn Quy chuẩn để tạo thuận lợi cho việc hợp quy sản phẩm trong sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
Cũng theo Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Toản, hiện năng lực sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở trong nước chưa đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng nên Việt Nam vẫn phải nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Theo đó, thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu phải tuân thủ quy định kiểm tra khi trước đưa ra lưu thông trên thị trường.
Tuy nhiên, trên thực tế, các thuốc bảo vệ thực vật sinh học nhập khẩu từ các nước phát triển ví dụ như Mỹ hay EU đều phải đáp ứng các quy định chặt chẽ về an toàn sức khoẻ và môi trường. Vì vậy, việc sửa Luật lần này cần có thêm quy định công nhận và thừa nhận quy chuẩn, tiêu chuẩn của các nước để giúp giảm bớt thủ tục cũng như lệ phí cho doanh nghiệp nhập khẩu.

Toàn cảnh buổi góp ý cho Luật Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật chiều 24/8. Ảnh: Anh Nguyễn/Bnews/vnanet.vn
Cũng chỉ ra bất cập, Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Kim Vân cho biết, hiện vấn đề an toàn thực phẩm được các nước trên thế giới ưu tiên hàng đầu. Trong khi đó, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang các thị trường lớn như Mỹ, EU thường gặp khó khăn do dư lượng hoá chất vượt các quy định của nước sở tại. Vì vậy, việc sửa Luật cần bổ sung các chính sách cụ thể thúc đẩy việc nghiên cứu, sản xuất, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học thay thế dần thuốc bảo vệ thực vật hoá học là rất cấp bách.
Thực tế là trong những năm qua, Nhà nước đã có chủ trương phát triển mạnh thuốc bảo vệ thực vật sinh học theo Đề án của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tuy nhiên, việc chưa có các chính sách hỗ trợ cụ thể bằng các văn bản pháp lý dưới Luật nên việc triển khai Đề án này đạt được các kết quả như kỳ vọng, Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Kim Vân nhấn mạnh
Theo bà Đào Thu Vinh, đại diện Tổ chức quốc tế Croplife Việt Nam, việc sửa Luật lần này là cơ hội tốt bởi Luật đã được ban hành từ năm 2013, dù đã có những đóng góp nhất định nhưng cũng chỉ phù hợp với việc quản lý trước đây. Tuy nhiên, hiện xu hướng sản xuất nông nghiệp và quản lý trên thế giới đã thay đổi nhiều; định hướng quản lý vật tư nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã thay đổi nhiều cũng như các định hướng của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý hàng hoá cũng đang đặt ra những yêu cầu về việc sửa Luật Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật.
Theo đó, việc quản lý thuốc bảo vệ thực vật cần được đơn giản hoá về mặt thủ tục, trong đó rút ngắn thời gian đăng ký thuốc bảo thực vật nhưng vẫn phải đảm bảo quy trình về mặt quản lý, quy trình về mặt đăng ký dựa trên các bằng chứng khoa học, các đánh giá rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế hiện hành. Việc thay đổi này sẽ không làm giảm vai trò quản lý nhà nước nhưng lại làm tăng chất lượng thuốc bảo vệ thực vật lưu thông trên thị trường.
Thuốc bảo vệ thực vật vẫn phải là hàng hoá kinh doanh có điều kiện, phải do cơ quan trung ương quản lý và phải được cấp phép lưu hành. “Không thể áp dụng hậu kiểm với sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, vẫn phải được đánh giá nghiêm ngặt trước khi đưa ra thị trường để đảm bảo thuốc có độc lực sinh học cao với sinh vật gây hại nhưng vẫn đảm bảo an toàn sức khoẻ con người”.
Tuy nhiên, việc quản lý thuốc bảo vệ thực vật cần dựa trên thành phẩm, trong đó tăng cường trách nhiệm pháp lý của đơn vị đăng ký, đảm bảo truy xuất thông tin; đồng thời quy định về chất lượng thuốc bảo vệ thực vật cần được nâng cao. Bên cạnh đó, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ chất lượng thuốc bảo vệ thực vật. Đặc biệt, việc sửa Luật lần này cần bổ sung các chế tài mạnh tay xử phạt thuốc bảo vệ thực vật gây hại sức khoẻ cũng như có cơ chế quản lý việc kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trên môi trường thương mại số.
Ngoài ra, việc đăng ký thuốc bảo vệ thực vật cũng như loại bỏ thuốc bảo vệ thực vật cần được đổi mới dựa trên các căn cứ khoa học như các nước thế giới đang áp dụng. “Đó là không đánh giá dựa trên mức độ nguy cơ và thuốc có độc hay không độc, mà cần dựa vào đánh giá toàn diện: Khi thuốc được đưa vào sử dụng trong các điều kiện cụ thể sẽ tạo ra rủi ro gì và các rủi ro này có quản lý được không. Tất cả cách quản lý này đều đã có quy trình cụ thể và được các nước trên thế giới áp dụng hiệu quả”, đại diện Croplife Việt Nam nhấn mạnh.

