Xây dựng văn hóa công nhân gắn với phát triển văn hóa Việt Nam: Bài 2 - Tháo gỡ 'điểm nghẽn'
Để đời sống tinh thần của người lao động thực sự chuyển mình, đã đến lúc chúng ta cần thay đổi tư duy: Chăm lo văn hóa cho công nhân không phải là việc làm 'thêm thắt' khi có điều kiện, mà phải là một cấu phần không thể tách rời trong chiến lược phát triển bền vững.
Bồi đắp phẩm giá, niềm tin và động lực cống hiến cho công nhân
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội: “Việc chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân không chỉ là làm cho đời sống người lao động đỡ khô khan hơn, mà còn là bồi đắp phẩm giá, niềm tin, cảm giác thuộc về và động lực cống hiến của cả một lực lượng đang trực tiếp làm ra của cải cho Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung”.
Đời sống văn hóa, tinh thần của họ được chăm lo đúng mức, đó là lúc những giá trị như kỷ luật lao động, ý thức cộng đồng, tinh thần sáng tạo và khát vọng vươn lên được nuôi dưỡng một cách bền bỉ từ bên trong.
Khi công nhân có điều kiện sống tốt hơn về tinh thần, họ không chỉ làm việc hiệu quả hơn, mà còn gắn bó hơn với doanh nghiệp, với thành phố, với tương lai của chính mình. Và đó cũng chính là cách để Hà Nội hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW, đó là đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển, để văn hóa thật sự trở thành sức mạnh nội sinh của một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
Cần tích hợp yêu cầu phát triển đời sống văn hóa công nhân ngay từ khâu quy hoạch
Nhìn vào thực tế, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng những “điểm nghẽn” trong nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân lao động ở Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung, trước hết không nằm ở chỗ chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, mà nằm ở chỗ giữa nhận thức đúng và tổ chức thực hiện hiệu quả vẫn còn một khoảng cách khá lớn.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn chỉ ra rằng, rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức, mà nằm ở khoảng cách giữa “nói” và “làm”. Cụ thể, ba lớp “điểm nghẽn” đang bủa vây người công nhân là:
Thứ nhất là rào cản về thể chế và quy hoạch. Không ít nơi vẫn xem thiết chế văn hóa cho công nhân là hạng mục “nên có”, chứ chưa phải hạ tầng thiết yếu gắn với khu công nghiệp, khu nhà ở công nhân, giao thông công cộng và dịch vụ xã hội. Khi quỹ đất đã được phân bổ gần hết cho sản xuất, thương mại, nhà ở, thì văn hóa thường bị lùi xuống sau cùng.
Thứ hai là rào cản về thời gian sống của công nhân. Lao động theo ca kíp khiến nhiều mô hình hoạt động văn hóa được thiết kế theo giờ hành chính trở nên khó tiếp cận. Không phải công nhân không có nhu cầu, mà là cách tổ chức chưa đi vào nhịp sống thực của họ.
Thứ ba là rào cản về cơ chế huy động nguồn lực. Xã hội hóa còn hạn chế vì nhiều doanh nghiệp vẫn coi đầu tư cho đời sống văn hóa là khoản chi phụ, trong khi cơ chế ưu đãi, đặt hàng, hợp tác công - tư cho lĩnh vực này chưa đủ hấp dẫn và đủ rõ ràng để khuyến khích họ tham gia lâu dài.
Vì thế PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng: “Giải pháp cũng phải đi từ gốc. Trước hết, cần tích hợp yêu cầu phát triển đời sống văn hóa công nhân ngay từ khâu quy hoạch khu công nghiệp, khu nhà ở công nhân và thiết chế công đoàn, coi đó là tiêu chí bắt buộc chứ không phải phần bổ sung.
Tiếp theo là phải đổi mới cách tổ chức hoạt động theo hướng linh hoạt, thay vì chờ công nhân tìm đến thiết chế cần chủ động “đem văn hóa đến nơi công nhân đang sống và làm việc”. Có thể phát triển các mô hình thư viện nhỏ trong nhà máy, sân chơi cuối ca, xe văn hóa lưu động, câu lạc bộ cuối tuần, nền tảng số cung cấp nội dung văn hóa ngắn, dễ tiếp cận, phù hợp với thời gian nghỉ ít ỏi của người lao động”.
Song hành với đó, cần phải có cơ chế đủ mạnh để kéo doanh nghiệp tham gia: ưu đãi về đất đai, thuế, truyền thông thương hiệu, đồng thời đưa trách nhiệm chăm lo đời sống văn hóa công nhân trở thành một phần trong đánh giá phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Cuối cùng, cần trao vai trò lớn hơn cho tổ chức công đoàn, chính quyền cơ sở và các thiết chế văn hóa của thành phố trong việc đồng thiết kế chương trình với chính công nhân, để hoạt động văn hóa không bị áp đặt từ trên xuống mà phản ánh đúng nhu cầu thụ hưởng.











