Xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ, doanh nghiệp Việt cần lưu ý gì?

Bên cạnh chứng nhận Halal, doanh nghiệp khi xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ sẽ cần chú trọng đến các vấn đề như thanh toán, nguồn gốc nguyên liệu, xu hướng tiêu dùng thị trường và gian lận thương mại.

Là quốc gia có quy mô dân số khoảng 88 triệu người, nằm trên giao lộ Á – Âu, sở hữu vị trí kinh tế chiến lược, Thổ Nhĩ Kỳ đang trở thành một trong những thị trường ngách tiềm năng cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời mở ra cơ hội xuất khẩu sang các thị trường lân cận.

Số liệu từ Cục Hải quan cho biết, 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận mức tăng 38,5% so với cùng kỳ năm trước, lên 1,84 tỷ USD. Các mặt hàng lớn xuất khẩu sang thị trường này chủ yếu thuộc nhóm điện tử, sắt thép, giày dép...

Báo cáo thị trường do Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ công bố cho biết, Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay có nhiều dư địa tăng trưởng cho hàng hóa Việt Nam, đặc biệt đối với nhóm hàng nông sản như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều; hay thủy sản, sản phẩm dệt may.

Bên cạnh đó, xu hướng tiêu dùng xanh, sản phẩm tốt cho sức khỏe và thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng ngày càng phổ biến tại quốc gia Địa Trung Hải này, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao giá trị xuất khẩu.

PGS. TS Đinh Công Hoàng. Ảnh: NVCC

PGS. TS Đinh Công Hoàng. Ảnh: NVCC

Trao đổi với Mekong ASEAN, PGS. TS Đinh Công Hoàng, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi (ISAWAAS), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho biết, do yếu tố địa lý và khí hậu, Thổ Nhĩ Kỳ có sự thiếu hụt nguồn cung lớn với sản phẩm nông sản nhiệt đới và nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nội địa. Hiện nay Chính phủ nước này cũng đang thực hiện đa dạng hóa nguồn cung nhằm giảm phụ thuộc vào Nga và các quốc gia châu Âu.

Trong khi đó, Việt Nam có lợi thế bổ trợ hoàn hảo với cơ cấu nông nghiệp của Thổ Nhĩ Kỳ, không cạnh tranh trực tiếp. Chính vì vậy, đây sẽ là giai đoạn doanh nghiệp Việt Nam có nhiều không gian để phát triển thị trường.

Với thủy sản, Thổ Nhĩ Kỳ là một trong những nước xuất khẩu thủy sản nhiều, với 2,3 tỷ USD vào năm 2025 và đang đặt mục tiêu 3 tỷ USD vào năm 2028.

Hướng tới mức kim ngạch trên, Thổ Nhĩ Kỳ tập trung thúc đẩy phát triển nhóm sản phẩm chế biến sâu. Doanh nghiệp Thổ có nhu cầu nhập khẩu lượng lớn thủy sản sơ chế từ các nước nhiệt đới để phục vụ các nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu sang EU. Điều này mở rộng cánh cửa hơn cho hàng thủy sản Việt Nam tại quốc gia này.

Một nhóm hàng có tiềm năng là nhóm vật liệu xanh và sản phẩm thân thiện với môi trường. EU hiện là một trong những quốc gia xuất khẩu lớn của Thổ Nhĩ Kỳ, do đó quốc gia này cũng phải chịu áp lực lớn từ Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu "xanh" của các doanh nghiệp cũng vì vậy tăng nhanh trong thời gian qua.

Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng từ mây tre, gỗ đạt chứng chỉ FSC về quản lý rừng bền vững, bao bì tự phân hủy, xơ sợi tái chế.

Với mảng linh kiện và công nghiệp hỗ trợ, Thổ Nhĩ Kỳ là công xưởng sản xuất thiết bị gia dụng và ô tô hàng đầu thế giới. Doanh nghiệp Việt có thế mạnh về sản xuất linh kiện, phụ tùng nhựa – kim khí chính xác có thể trở thành nhà cung ứng cấp 2, cấp 3 cho chuỗi cung ứng của họ.

Những lưu ý với doanh nghiệp Việt

Mặc dù là thị trường có nhiều tiềm năng cho hàng hóa Việt, tuy nhiên đây cũng không phải thị trường mà doanh nghiệp xuất khẩu có thể dễ dàng thâm nhập.

Chia sẻ rõ hơn về vấn đề này, theo PGS. TS Đinh Công Hoàng, EU, Trung Quốc, Ấn Độ và các nước nội khối CIS từ lâu đã có mặt trên thị trường Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu chỉ cạnh tranh về giá ở nhóm hàng thô, doanh nghiệp Việt sẽ rất yếu thế, hướng đi bền vững cần là "tập trung vào thị trường ngách và tích hợp vào chuỗi giá trị".

“Thay vì xuất khẩu thô (cà phê nhân, hạt điều thô, hạt tiêu thô), doanh nghiệp nên chuyển sang nông sản chế biến, đồ uống đóng lon, hải sản chế biến đạt chuẩn Halal,” PSG. TS Đinh Công Hoàng nhìn nhận.

Mặt khác, Thổ Nhĩ Kỳ là một trong những quốc gia có tính bảo hộ rất cao (chống bán phá giá, chống lẩn tránh thuế, tự vệ). ​Doanh nghiệp xuất khẩu ngay từ đầu phải minh bạch toàn bộ nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu, lưu trữ chứng từ kế toán - sản xuất để sẵn sàng giải trình khi có các cuộc điều tra.

Lưu ý thứ hai là tiêu chuẩn kỹ thuật và chứng nhận Halal. Thổ Nhĩ Kỳ và EU đã thiết lập liên minh hải quan từ năm 1995, do đó quy chuẩn với hàng xuất khẩu vào đây cũng sẽ phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các tiêu chí của châu Âu (CE mark, REACH, RoHS, tiêu chuẩn môi trường).

Với chứng nhận Halal, đây là yêu cầu quan trọng để doanh nghiệp gia tăng sức cạnh tranh và tiếp cận nhanh hơn với người tiêu dùng bản địa, nhất là đối với hàng nông sản và thực phẩm chế biến. Hiện Thổ Nhĩ Kỳ có tỷ lệ người Hồi giáo lớn, chiếm hơn 90% dân số.

Sản phẩm có chứng nhận Halal sẽ tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt. Ảnh minh họa: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN

Sản phẩm có chứng nhận Halal sẽ tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt. Ảnh minh họa: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN

Một vấn đề khác mà doanh nghiệp cũng cần chú ý là hoạt động thanh toán. Theo ông Hoàng, trước áp lực mất giá của đồng Lira và lạm phát cao, doanh nghiệp nên ưu tiên hợp đồng thanh toán bằng ngoại tệ mạnh như USD hoặc EUR.

Phương thức thanh toán nên sử dụng thư tín dụng trả ngay không hủy ngang (Irrevocable L/C at sight) hoặc đặt cọc từ 30 - 50% kết hợp với phương thức D/P. Doanh nghiệp nên hạn chế cho nợ tiền hàng hoặc áp dụng phương thức thanh toán trả chậm.

Đối với vấn đề gian lận thương mại, báo cáo của Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ đã chỉ ra 4 hình thức gian lận thương mại phổ biến tại quốc gia này.

Theo đó, đối tác sẽ giả danh tổ chức quốc tế/viện trợ Chính phủ, liên hệ đặt mua số lượng lớn hàng hóa nhưng yêu cầu đặt cọc để “thông qua hồ sơ”, sau đó tiếp tục yêu cầu nhà xuất khẩu chuyển thêm tiền với nhiều lý do khác nhau.

Thứ hai, các đối tượng sẽ lập website tiếng Anh với hình ảnh, thông tin phong phú nhưng thực chất là doanh nghiệp lừa đảo, có thể liên kết với website logistics giả mạo khác.

Thứ ba, hàng đến cảng, đối tác sẽ viện lý do từ chối nhận, không cho quay đầu để ép giá hoặc chậm thanh toán; để hàng quá hạn lưu kho, hải quan thu hồi và đấu giá sau 45 ngày.

Thứ tư, đối tượng sẽ tạo uy tín qua website, hội chợ chuyên ngành, sau đó yêu cầu ký hợp đồng với một doanh nghiệp thứ ba không liên đới, đặt hàng không thanh toán bằng con dấu/thông tin giả mạo.

Sớm có FTA chung giữa hai nước

Dưới góc độ chuyên gia, để doanh nghiệp có thể xuất khẩu thuận lợi hơn vào Thổ Nhĩ Kỳ, PGS. TS Đinh Công Hoàng đề xuất Việt Nam cần thúc đẩy đàm phán Hiệp định Thương mại Ưu đãi (PTA) hoặc Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương với quốc gia này.

Hai bên cần tiến tới một thỏa thuận thương mại có tính khuôn khổ nhằm cắt giảm thuế quan cho các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, giảm sự bất bình đẳng về thuế so với các nước đã có FTA với Thổ Nhĩ Kỳ.

Hai nước cũng cần có Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về chứng nhận Halal. Hai bên nên đẩy mạnh hợp tác giữa các tổ chức chứng nhận Halal của Việt Nam với Cơ quan Thẩm định Halal Thổ Nhĩ Kỳ (HAK) để chứng chỉ Halal do Việt Nam cấp được công nhận tự động tại Thổ Nhĩ Kỳ, giảm chi phí và thời gian kiểm định.

​Bên cạnh đó, Bộ Công Thương phối hợp với các hiệp hội ngành hàng xây dựng kênh cảnh báo về phòng vệ thương mại cho thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó kịp thời cho các vụ việc điều tra.

PGS. TS Đinh Công Hoàng cũng lưu ý về việc xây dựng Trung tâm logistics/kho ngoại quan dùng chung. Chính phủ hoặc các tập đoàn logistics lớn có thể nghiên cứu xây dựng trung tâm phân phối hàng Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ, biến nơi đây thành "đại bản doanh" trung chuyển hàng hóa sang EU và Trung Đông.

Lê Hồng Nhung

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/xuat-khau-sang-tho-nhi-ky-doanh-nghiep-viet-can-luu-y-gi-61011.html