Xuất nhập khẩu năm nay ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD
Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tại Quốc hội, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, 9 tháng năm 2026, các khu vực kinh tế đều tăng khá, các động lực tăng trưởng được tập trung đẩy mạnh. Trong đó, xuất nhập khẩu tăng 30,4%, cả năm ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD.
Sáng 17/10, tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã trình bày Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng trình bày Báo cáo về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027. (Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội)
Năm 2026, dự kiến đạt và vượt 14/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu
Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, năm 2026 là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho giai đoạn phát triển mới. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành đồng bộ nhiều chủ trương, quyết sách lớn, có tính chiến lược, bao quát các nền tảng và động lực phát triển chủ yếu trên các lĩnh vực, từng bước định hình mô hình, thể chế phát triển và phương thức quản trị quốc gia phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, nhiều vấn đề mới phát sinh vượt dự báo, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, xung đột gây đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu; với sự vào cuộc quyết liệt, trách nhiệm, sâu sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã bám sát các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội, khẩn trương cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động. Đồng thời quyết liệt đổi mới căn bản phương thức làm việc, tổ chức thực hiện theo hướng khoa học, hợp lý, hiệu quả; chủ động nhận diện, xử lý ngay các vấn đề đột xuất, phát sinh. Các cấp, các ngành, các địa phương quyết liệt triển khai, tạo chuyển biến rõ nét, đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện; dự kiến đạt và vượt 14/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu.
Nổi bật là: (1) Tăng trưởng kinh tế cao gắn với ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; các động lực tăng trưởng được phát huy, tạo nền tảng cho đổi mới mô hình phát triển. Tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước; GDP quý III tăng 9,95%, 9 tháng tăng 9,01%, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới. Chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác được điều hành chủ động, linh hoạt. Lần đầu tiên thị trường chứng khoán được nâng hạng; Moody’s nâng triển vọng của Việt Nam từ mức “Ổn định” lên “Tích cực”. Các tổ chức quốc tế đánh giá cao sức chống chịu và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam.
Trong bối cảnh giá dầu thô và nhiều mặt hàng tăng mạnh nhưng nhờ chủ động quyết liệt kết hợp các biện pháp, cơ chế, chính sách: (1) Đẩy mạnh sản xuất xăng dầu trong nước, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, sử dụng kịp thời các công cụ thuế, phí, ứng NSNN nên vẫn bảo đảm nguồn cung, giữ giá xăng dầu ở mức thấp so với khu vực; (2) Huy động, điều tiết hợp lý nguồn điện nên bảo đảm cung ứng và không tăng giá trong bối cảnh nhu cầu sử dụng điện tăng cao nhất từ trước tới nay, nhất là phục vụ mục tiêu tăng trưởng, đầu tư cho khoa học công nghệ, trung tâm dữ liệu. Đồng thời, thực hiện hiệu quả công tác quản lý, điều hành giá nên CPI bình quân 9 tháng chỉ tăng ở mức 4,52%.
Cả ba khu vực kinh tế đều tăng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, các động lực tăng trưởng truyền thống được tập trung đẩy mạnh, các động lực mới bước đầu được thúc đẩy. Trong 9 tháng, công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, cao nhất từ năm 2015. Nông nghiệp duy trì ổn định; dịch vụ phát triển tích cực, khách quốc tế đạt 17,7 triệu lượt, tăng 14,5%, cao nhất từ trước đến nay. Xuất nhập khẩu tăng 30,4%, cả năm ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đạt 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%. Giải ngân đầu tư công đạt gần 643 nghìn tỷ đồng, bằng 63% kế hoạch, cao hơn cùng kỳ gần 13% (tương đương 202 nghìn tỷ đồng). Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, cao nhất từ năm 2021, tập trung nhiều vào chế biến, chế tạo, công nghệ cao, điện tử, bán dẫn. Hoạt động doanh nghiệp tiếp tục khởi sắc.
(2) Hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực; kiến tạo thể chế phát triển, tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực thi theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW.
Chính phủ đã và đang trình Quốc hội nhiều luật, nghị quyết quan trọng với các cơ chế, chính sách đột phá hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh, nhất là: miễn, giảm thuế, nâng ngưỡng chịu thuế; cơ chế vượt trội huy động nguồn lực cho các vùng, cực tăng trưởng; chuyển từ hỗ trợ sang phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân; khơi thông nguồn lực đất đai, phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê...
Thực hiện đồng bộ, hiệu quả công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, từng bước vận hành thông suốt chính quyền địa phương 02 cấp theo các Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
(3) Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy liên kết vùng, khai thác không gian phát triển mới. Hoàn thành thêm 395 km đường bộ cao tốc, đưa vào khai thác toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, khởi công đồng loạt 05 tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội, triển khai nhiều dự án hạ tầng quan trọng trong các lĩnh vực giao thông, năng lượng, văn hoá, xã hội... Quyết liệt tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài, giải phóng nguồn lực cho phát triển.
(4) Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có nhiều chuyển biến tích cực gắn với giải quyết các bài toán lớn của quốc gia. Tập trung tháo gỡ vướng mắc về tài chính, đầu tư. Kế hoạch 100 ngày xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số được tích cực triển khai. Đề án 06 mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp; hạ tầng dữ liệu được mở rộng; ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Cổng Dịch vụ công quốc gia được vận hành ổn định. Đã ban hành danh mục công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược...
(5) Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống người dân được cải thiện. Các chính sách xã hội, chế độ đối với thương binh, liệt sĩ, người có công và thân nhân được nâng lên, đồng thời mở rộng về diện bao phủ và hướng mạnh về cơ sở. Trợ cấp, phụ cấp đối với người có công và đối tượng bảo trợ xã hội tăng 8%...
(6) Đổi mới giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân được tích cực triển khai theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW và 72-NQ/TW của Bộ Chính trị. Chỉ đạo triển khai mạnh mẽ các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông; sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục đào tạo các cấp gắn với bảo đảm chất lượng dạy và học. Chất lượng các cấp học từng bước được nâng lên; triển khai chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực ưu tiên...
(7) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó thiên tai, biến đổi khí hậu. Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia phù hợp với không gian phát triển mới; đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Quản lý, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản được tăng cường; chú trọng quản lý chặt chẽ khoáng sản chiến lược. Tăng cường năng lực phân tích, dự báo, chủ động ứng phó, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai...
(8) Quốc phòng, an ninh được củng cố, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển; đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai toàn diện.
Các Nghị quyết của Trung ương về bảo đảm an ninh quốc gia và xây dựng xã hội kỷ cương được triển khai đồng bộ. Tăng cường đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vi phạm xuất xứ, sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, tội phạm ma túy, công nghệ cao...
Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tạo nền tảng cho phát triển đất nước; trong 9 tháng đã nâng cấp quan hệ với 07 đối tác. Đối ngoại cấp cao được triển khai chủ động, liên tục, góp phần tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác, huy động nguồn lực, mở rộng thị trường. Chủ động ứng phó linh hoạt các vấn đề phát sinh trong khu vực và thế giới. Tích cực đàm phán hiệp định thương mại với các đối tác. Vai trò của Việt Nam tại ASEAN và các cơ chế đa phương tiếp tục được nâng cao.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng trình bày Báo cáo về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Điều hành kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát tiếp tục chịu áp lực lớn; thị trường tiền tệ, tỷ giá chịu nhiều sức ép từ bên ngoài. Do nhu cầu vốn đầu tư lớn và sức ép lạm phát nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay còn cao. Huy động nguồn lực xã hội còn hạn chế. Tiếp cận đất đai, tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó khăn. Cơ cấu xuất nhập khẩu chưa bền vững.
Còn một số hạn chế, tồn tại trong lĩnh vực y tế, giáo dục, nông nghiệp và môi trường, xây dựng, điện. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn; tăng trưởng kinh tế chưa lan tỏa đồng đều; ô nhiễm không khí, ngập úng, ùn tắc giao thông, cháy nổ… chưa được xử lý triệt để; thiên tai, thời tiết cực đoan khó lường; an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao, ma túy... còn phức tạp.

Các đại biểu Quốc hội tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Phấn đấu đạt cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu, nhất là mục tiêu tăng trưởng hai con số
Đánh giá tổng quát, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, kinh tế - xã hội năm 2026 đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện, từng bước hình thành và củng cố những nền tảng quan trọng cho phát triển đất nước, nổi bật là: (1) Thể chế và quản trị quốc gia theo hướng kiến tạo phát triển; (2) Tăng trưởng cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô; các động lực tăng trưởng ngày càng được thúc đẩy, các nguồn lực được khơi thông; phân bổ, sử dụng nguồn lực gắn với hiệu quả KTXH; điều hành hiệu quả giá cả các mặt hàng thiết yếu, đầu vào của nền kinh tế, góp phần kiểm soát lạm phát; (3) Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao có bước phát triển mới; (4) Văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục được quan tâm, ưu tiên nguồn lực phát triển; an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân được nâng lên; (5) Quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được củng cố, tăng cường, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và nâng cao vị thế đất nước. Những kết quả này góp phần tạo đà, tạo thế, tạo lực để tăng tốc, bứt phá, phát triển nhanh, bền vững, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, giải pháp, mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Nêu rõ nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu những tháng cuối năm 2026, Thủ tướng cho biết, phấn đấu đạt cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra, nhất là mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, trong đó tập trung: Điều hành hiệu quả chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; có giải pháp quyết liệt, hiệu quả giảm lãi suất cho vay; bảo đảm nguồn cung điện, xăng dầu; thúc đẩy thị trường trong nước thông qua các biện pháp kích cầu, khai thác hiệu quả mùa tiêu dùng, du lịch cuối năm gắn với kiểm soát, bình ổn giá; đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu.
Các địa phương phải phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao nhất, đặc biệt là các cực tăng trưởng lớn. Phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch đầu tư công; thúc đẩy đầu tư tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài, tháo gỡ các dự án tồn đọng.
Đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và giải ngân hiệu quả nguồn vốn được giao; hoàn thành “100 ngày cao điểm” xử lý các điểm nghẽn để triển khai hiệu quả Cổng Dịch vụ công quốc gia, giảm thời gian, chi phí tuân thủ, nâng cao hiệu quả điều hành của các cấp chính quyền.
Cùng với đó, chú trọng phát triển văn hóa, nâng cao đời sống nhân dân, trong đó, tập trung chuẩn bị tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc; tập trung chăm lo cho người có công, đối tượng chính sách, nhất là trong dịp Lễ, Tết; triển khai quyết liệt Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm...

Toàn cảnh Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. (Ảnh: Nhật Bắc/chinhphu.vn)
Năm 2027 tập trung phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên, tạo lập nền tảng cho mô hình phát triển mới của đất nước
Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu rõ, năm 2027 là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế, tạo lực để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Tập trung phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Tạo lập nền tảng cho mô hình phát triển mới của đất nước, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính; xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; tạo môi trường thuận lợi, phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế. Phát triển hài hòa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân; củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Thủ tướng cho biết, trong 45 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 có: (1) Tăng trưởng GDP phấn đấu từ 10% trở lên; (2) Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4,5%; (3) GDP bình quân đầu người đạt 6.100 USD; (4) Năng suất lao động xã hội bình quân tăng 8,6%; (5) Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm 1-1,5%.
Thủ tướng lưu ý, nhiệm vụ từ nay đến cuối năm 2026 và năm 2027 là rất nặng nề và có ý nghĩa quan trọng, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng, năng động, đổi mới, sáng tạo, không lùi bước trước khó khăn, thách thức, quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn, hành động có trọng tâm, trọng điểm và quyết liệt hơn.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, Chính phủ trân trọng đề nghị và mong tiếp tục nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; sự chủ động, tích cực, quan tâm, đồng hành, ủng hộ và giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể Nhân dân, toàn thể đồng bào, cử tri cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài để nỗ lực phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch đề ra của năm 2026, tăng tốc, bứt phá trong năm 2027, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2026 - 2030 và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
