81 năm từ mùa Thu độc lập: Tri thức mở lối, kiến tạo sức bật quốc gia
81 năm từ mùa Thu độc lập, nhìn lại chặng đường của đất nước cũng là nhìn lại hành trình giáo dục góp phần "khai dân trí", mở rộng những chân trời tri thức cho nhiều thế hệ người Việt, góp phần định hình vận mệnh dân tộc.
Con chữ đi cùng nền độc lập...
Ngược dòng lịch sử, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra trang mới trong lịch sử dân tộc, đất nước giành độc lập, nhân dân trở thành người làm chủ. Song chính quyền cách mạng non trẻ vừa ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn thử thách, trong đó "giặc đói", "giặc dốt" và giặc ngoại xâm trực tiếp đe dọa vận mệnh quốc gia. Hậu quả của chính sách ngu dân dưới chế độ thực dân để lại đặc biệt nặng nề, hơn 90% đồng bào không biết chữ. Một dân tộc vừa giành được quyền độc lập nhưng đại bộ phận người dân chưa thể đọc, viết bằng chính ngôn ngữ của mình.
Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bao gồm 6 vấn đề, trong đó có giải quyết nạn dốt. Người chỉ rõ "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" và đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ.
Ngày 8/9/1945, Chính phủ liên tiếp ban hành 3 sắc lệnh: Sắc lệnh số 17-SL thành lập Nha Bình dân học vụ, Sắc lệnh số 19-SL quy định các làng, thị trấn phải mở lớp học bình dân và Sắc lệnh số 20-SL quy định việc bắt buộc học chữ Quốc ngữ trong toàn quốc, học không mất tiền, hạn trong một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ.
Từ những quyết sách đó, "Bình dân học vụ" nhanh chóng trở thành phong trào quần chúng rộng khắp. Lớp học được mở trong đình làng, nhà dân, nơi công cộng, đưa con chữ tới hàng triệu người chưa từng có cơ hội đến trường.
Công cuộc xóa nạn mù chữ còn được tiếp thêm sức mạnh từ sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 4/10/1945, Người ra Lời kêu gọi toàn dân "Chống nạn thất học", nhiều lần gửi thư động viên, khích lệ toàn dân tham gia dạy chữ, học chữ, coi việc chống nạn mù chữ là nhiệm vụ cấp bách, gắn liền với sự tồn vong và tương lai của dân tộc.
Chỉ trong 1 năm, phong trào đã giúp hơn 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ; đến ngày 30/6/1950, gần 12,2 triệu người đã biết chữ, 10 tỉnh với 80 huyện, hơn 1.400 xã và 7.200 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học của công nhân Nhà máy 1/5 (Hà Nội), lá cờ đầu của phong trào bổ túc văn hóa ngành công nghiệp, ngày 19/12/1963.
Bước đột phá về tư duy, hành động
81 năm qua, dưới sự lãnh đạo, định hướng tư tưởng, đường lối giáo dục của Đảng, thể chế, chính sách trong giáo dục không ngừng được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để lĩnh vực này phát triển.
Ngay từ Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, tư tưởng "mọi người dân đều có quyền học tập" đã được khẳng định. Luật Giáo dục năm 1998 lần đầu tiên tạo lập khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện cho hệ thống giáo dục quốc dân trong thời kỳ Đổi mới.
Từ đó đến nay, hàng loạt luật, nghị quyết, chính sách được ban hành, mở ra hành lang pháp lý ổn định, phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

Học sinh một trường tiểu học hân hoan trong ngày khai giảng năm học mới.
Ngày 26/6/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 217/2025/QH15 về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Cùng ngày, Nghị quyết số 218/2025/QH15 được Quốc hội thông qua, chính thức xác lập chủ trương phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3-5 tuổi trên toàn quốc.
Khung pháp lý cho hệ thống giáo dục cũng được củng cố với Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Cùng thời điểm, Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15 chính thức có hiệu lực, lần đầu tiên tạo lập một khuôn khổ pháp lý riêng đối với đội ngũ nhà giáo, lực lượng giữ vai trò trực tiếp trong chất lượng giáo dục.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026, triển khai năm học 2026-2027 ngày 27/8 vừa qua, các chính sách miễn học phí, miễn phí sách giáo khoa, hỗ trợ bữa ăn, học bổng, tín dụng; tăng phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo; mở rộng tự chủ cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp... đã từng bước tạo chuyển biến, tác động tích cực đối với người học và đội ngũ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Năm học 2025 - 2026 có khoảng 4,82 triệu trẻ mầm non và hơn 19 triệu học sinh phổ thông đến trường. Chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên tiếp tục được củng cố. Các địa phương duy trì ổn định Chương trình giáo dục mầm non, Chương trình giáo dục phổ thông 2018; tăng cường giáo dục STEM, ngoại ngữ, năng lực số, hướng nghiệp và phân luồng.
Chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được khẳng định, học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olympic khu vực và quốc tế năm 2026 tiếp tục đạt nhiều thành tích cao. Tính đến thời điểm hiện tại, có 8 đoàn tham dự các kỳ Olympic, tất cả các đội tuyển đều có học sinh đạt thành tích cao, gồm: 15 Huy chương Vàng, 21 Huy chương Bạc, 7 Huy chương Đồng, 1 Bằng khen. Tất cả các đội tuyển đều nằm trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu toàn Đoàn xếp theo số lượng Huy chương Vàng.
Trước đó, theo kết quả PISA 2022 do OECD công bố, điểm trung bình 3 lĩnh vực Toán, Đọc hiểu và Khoa học của học sinh Việt Nam xếp thứ 34/81 quốc gia và nền kinh tế tham gia. Việt Nam đứng thứ 2 trong ASEAN sau Singapore.

Sinh viên học tập, nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Robotics, Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh. Đây là trường trọng điểm của Bộ Công Thương trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho nền kinh tế khu vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung.
Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp tiếp tục chuyển mạnh theo hướng hiện đại hóa, gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực. Hơn 90 chương trình tài năng kỹ sư, thạc sĩ STEM được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học; tỷ lệ sinh viên STEM nhập học năm 2026 đạt 33,6%.
Đặc biệt, trong bảng xếp hạng QS Asia University Rankings, năm 2025, Việt Nam có 17 cơ sở giáo dục đại học góp mặt; có 9 cơ sở đại học được xếp hạng tại 25 ngành học. Đặc biệt, có 3 ngành lọt top 100 thế giới, gồm ngành Kỹ thuật dầu khí của Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh; ngành Khách sạn và Giải trí của Đại học Duy Tân và ngành Nghệ thuật trình diễn của Trường Đại học Văn Lang.
Hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng cả về quy mô và chiều sâu. Chuyển đổi số trong giáo dục chuyển từ xây dựng nền tảng sang khai thác dữ liệu và cung cấp dịch vụ thực chất.
Chủ trương xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền được triển khai quyết liệt. Đến ngày 30/8/2026, hơn 100 trường giai đoạn 1 hoàn thành những hạng mục công trình cơ bản, đủ điều kiện đưa học sinh vào học, phục vụ khai giảng năm học mới ngày 5/9/2026.
Đột phá nguồn nhân lực
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD vào năm 2030, kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng trên 55% và năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ được đặt mục tiêu 35-40%.
Đây không thuần túy là những chỉ tiêu kinh tế, một nền kinh tế muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài phải tạo được nền tảng vững chắc về năng suất, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Càng tiến sâu vào những ngành có hàm lượng tri thức cao, yêu cầu đối với con người càng lớn, lao động có kỹ năng, đội ngũ kỹ sư, nhà quản trị, chuyên gia và các nhà khoa học trở thành lực lượng quyết định khả năng tiếp nhận, làm chủ và sáng tạo công nghệ.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định giáo dục và đào tạo là "quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc", trong mô hình tăng trưởng mới, giáo dục ngày càng gắn trực tiếp với sức bật của nền kinh tế. Chất lượng đào tạo quyết định chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và năng suất lao động, trở thành một trong những nền móng tạo nên năng lực cạnh tranh và dư địa tăng trưởng của quốc gia.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định giáo dục và đào tạo là "quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc".
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định đây là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất và tạo sức bật mới cho nền kinh tế. Song công nghệ chỉ có thể trở thành năng lực phát triển khi đất nước có những con người đủ trình độ tiếp nhận, làm chủ và sáng tạo ra công nghệ mới.
Yêu cầu đó đặt giáo dục trước một bước chuyển mới, sau hơn một thập niên thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết khẳng định: "Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu"; "Đất nước ta đang đứng trước vận hội lịch sử để phát triển bứt phá, yêu cầu xây dựng con người, xây dựng nguồn nhân lực đặt ra rất quan trọng và cấp bách, đòi hỏi phải đột phá phát triển giáo dục và đào tạo góp phần xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới có lòng yêu nước và tự hào dân tộc, đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, trình độ, sức khoẻ để đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới".
Nghị quyết số 71 đã đặt ra những mục tiêu cao hơn rất nhiều so với giai đoạn trước. Đến năm 2030, ít nhất 80% trường phổ thông phải đạt chuẩn quốc gia, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở. Ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành trung học phổ thông hoặc tương đương. Chỉ số giáo dục đóng góp vào HDI phải đạt trên 0,8 và chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%. Hướng tới xây dựng các cơ sở giáo dục đại học mạnh về nghiên cứu, đào tạo nhân tài khoa học công nghệ, phấn đấu có ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
Chủ trương nhanh chóng được chuyển sang khâu thực hiện, chỉ chưa đầy 1 tháng sau khi Nghị quyết được ban hành, ngày 15/9/2025 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 281/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71. Tháng 12/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 248/2025/QH15 về các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, tạo thêm cơ sở pháp lý và nguồn lực để những yêu cầu của Nghị quyết số 71 đi vào thực tiễn.
Chủ trì buổi làm việc với các cơ quan liên quan về đánh giá kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 25/8 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, Nghị quyết đặt ra yêu cầu tiếp tục "đổi mới căn bản, toàn diện", đồng thời phải tạo đột phá trong phát triển giáo dục và đào tạo, chuyển mạnh sang tổ chức thực hiện và tạo ra kết quả thực chất.
Giáo dục phải đi trước một bước để chuẩn bị nguồn nhân lực và nhân tài cho tương lai đất nước. Nâng nhanh mặt bằng kỹ năng của lực lượng lao động khi tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp; đào tạo được đội ngũ nhân lực tinh hoa, nhân lực công nghệ chiến lược cho những lĩnh vực quyết định sức cạnh tranh trong tương lai của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đã và sẽ tiếp tục dành sự quan tâm, cùng những điều kiện tốt nhất có thể cho giáo dục; nhưng bản thân ngành Giáo dục phải đáp lại bằng một cuộc tự đổi mới mạnh mẽ, bằng trách nhiệm cao hơn và bằng chất lượng thực chất, góp phần tạo đột phá thực chất trong phát triển giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Những lớp "Bình dân học vụ" trong mùa Thu độc lập năm 1945 đã mở đầu hành trình giáo dục gắn bó với vận mệnh dân tộc. Sau 81 năm, bài toán của giáo dục đã đổi khác về quy mô và yêu cầu phát triển nhưng cốt lõi vẫn là con người. Một đất nước muốn đi nhanh, đi xa và đứng vững trong kỷ nguyên mới phải có những thế hệ đủ tri thức, kỹ năng, bản lĩnh và năng lực sáng tạo.
Đột phá giáo dục trước hết phải được đo bằng chất lượng người học, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tạo ra những con người có thể gánh vác tương lai đất nước. Đó cũng là cách giáo dục tiếp tục thực hiện sứ mệnh "khai dân trí", bồi đắp nguyên khí quốc gia và góp phần đưa Việt Nam vươn lên bằng chính trí tuệ, bản lĩnh cùng khát vọng của con người Việt Nam.
Những thành tựu đạt được trong suốt chặng đường 81 năm là nền tảng quan trọng để giáo dục Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Với quyết tâm chính trị, sự vào cuộc của toàn hệ thống và sự đồng hành của toàn xã hội, giáo dục Việt Nam có thêm cơ sở để tiến gần hơn tới những mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đề ra, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
