Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phước với trận đánh cao điểm 1975
Dù gãy nát hai chân, Thiếu úy Trần Văn Phước vẫn kiên cường chỉ huy Đại đội 18 Đặc công cường tập làm chủ Cao điểm 1975 lịch sử.
Đồng chí Trần Văn Phước sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Vũ Hợp, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay là xã Vũ Tiên,tỉnh Hưng Yên ). Đồng chí nhập ngũ năm 1961, vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) vào ngày 1 tháng 10 năm 1971. Khi anh dũng hy sinh, đồng chí là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, mang quân hàm Thiếu úy, giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 18 (C18) thuộc Tiểu đoàn 27 Đặc công, Bộ Tư lệnh Đặc công (nay là Liên đội 27 thuộc Lữ đoàn Đặc công 113).
Khu vực tác chiến và tương quan lực lượng
Cao điểm 1975 nằm trong khu vực bản Nậm Cả, sát cạnh cao điểm Phu Lũng Mạt, địa hình cấu trúc gồm 2 mỏm A, B và 1 khu yên ngựa. Tại căn cứ chiến lược này, lực lượng đặc biệt Vàng Pao đã tổ chức bố trí 1 Tiểu đoàn chính quy hỗn hợp sừng sỏ, được tăng cường hỏa lực hạng nặng bao gồm súng cối 106,7mm, pháo binh 105mm và nhiều súng không giật ĐKZ.
Mục đích của địch nhằm khống chế, kiểm soát toàn bộ khu vực Thầm Thuội, Thầm Lửng, phía Tây Cánh đồng Chum và trục đường ô tô huyết mạch dẫn từ Phôn-xa-vẳn vào Sảm Thông – Long Chẹng (Lào). Chúng đề phòng, ngăn chặn Quân tình nguyện Việt Nam sử dụng xe tăng T-34 tấn công vào đầu não Sảm Thông và Long Chẹng. Khoảng cách từ căn cứ này đến đường lộ tính theo đường chim bay chỉ vẹn vẹn 4 km, quân địch tận dụng lợi thế súng bắn thẳng tà âm có thể dễ dàng tiêu diệt mọi mục tiêu quân sự của ta xuất hiện trên đường.

(Đồng chí Trần Văn Phước cùng đồng chí Trịnh Minh Đích là hai cán bộ chỉ huy xuất sắc đầu tiên của Tiểu đoàn 27 Đặc công vinh dự được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND trên chiến trường quốc tế Lào) - Trong ảnh là : .Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trịnh Minh Đích ( bìa trái ) & Thành Đô ( phải ) tại nhà bia lưu niệm ghi dấu chiến công.của gia đình Anh hùng Trịnh Minh Đích - Ảnh : Trịnh Quỳ
Sau hơn 1 tháng nhận mệnh lệnh hỏa tốc từ cấp trên, đơn vị Đặc công của ta đã khẩn trương tổ chức lập đài quan sát để điều nghiên thực địa. Đồng chí Phan Văn Quốc (Trung đội trưởng Trinh sát) và đồng chí Nguyễn Thanh Hiền (Trung đội trưởng Thông tin) được ban chỉ huy giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy hướng mũi này. (Xin nói thêm, quy mô quân số biên chế của 3 trung đội thông tin, trinh sát và hỏa lực phối thuộc lúc bấy giờ chỉ có hơn 30 người, bằng một nửa quân số của một đại đội xung lực, nhưng do tính chất dạn dày và đặc thù thực chiến phức tạp, đơn vị vẫn được biên chế riêng 1 Chính trị viên với cấp bậc quân hàm tương đương Chính trị viên đại đội xung lực).
Đại đội 18 (C18) do đồng chí Trần Văn Phước trực tiếp làm Đại đội trưởng. Trước đó, đồng chí vốn là một chiến sĩ lái xe kiên cường, sau khi trải qua lớp huấn luyện cấp tốc chuyển binh chủng tại Trường Đặc công Xuân Mai đã được cấp trên điều động về thay thế cho Liệt sĩ, Đại đội trưởng Nguyễn Quang Hợp (người đã anh dũng hy sinh trong trận đánh Cánh đồng Chum 2 vào ngày 12/2/1970).
Trần Văn Phước đã trực tiếp chỉ huy trinh sát thực địa cao điểm này. Một thử thách cực kỳ lớn cho đơn vị lúc đó là xung quanh cao điểm 1975 phủ dày cây cối rậm rạp, rất khó để bám nắm toàn diện tình hình quân địch từ đài quan sát vòng ngoài. Hơn nữa, ở các khu vực lân cận đều có các điểm cao khác do giặc chốt giữ nghiêm ngặt, gần nhất là cao điểm Phu Lũng Mạt với độ cao lên tới 2.027 mét.
Diễn biến trận cường tập chớp nhoáng
Đêm ngày 31 tháng 7 rạng sáng ngày 1 tháng 8 năm 1970, Đại đội 18 tổ chức đội hình hành tiến thành 4 mũi tiến công dũng mãnh (trong đó có 2 mũi làm nhiệm vụ dự bị chiến thuật) bí mật tiềm nhập vào căn cứ của địch. Khi một số đồng chí chiến sĩ trinh sát tuyến đầu vừa khéo léo lọt qua hệ thống hàng rào kẽm gai lõi trong cùng thì không may bị quân địch phát hiện. Kẻ thù hoảng hốt điên cuồng huy động tất cả các loại hỏa lực bắn xối xả, quét dồn dập ra hướng cửa mở.
Ngay từ loạt đạn mở màn ác liệt của giặc, nhiều đồng chí của ta đã trúng đạn bị thương và hy sinh. Trong đó, Đại đội trưởng Trần Văn Phước bị trúng hỏa lực bị thương rất nặng ở cả hai chân. Gãy nát hai chân, thể xác chịu cơn đau đớn tột cùng, nhưng với tấm gương anh dũng và bản lĩnh kiên cường của người chỉ huy cao nhất, đồng chí Trần Văn Phước quyết không rời trận địa, không chịu lui về tuyến sau. Đồng chí liên tục lớn tiếng động viên cán bộ, chiến sĩ phải kiên quyết giữ vững quyết tâm, đồng loạt xông lên cường tập đánh thẳng vào khu trung tâm đầu não của địch.

Chân dung Thiếu úy Trần Văn Phước – Người Đại đội trưởng kiên cường của C18 Đặc công.- Ảnh : Lịch sử Lữ đoàn Đặc công 113.
Trước hệ thống chiến hào phòng thủ sâu hoắm do địch dùng máy ủi đào chắn từ mấy hôm trước, các chiến sĩ ta đã mưu trí công kênh, hỗ trợ nhau vượt hào, tạo thành các mũi nhọn dũng mãnh thọc sâu vào bên trong lõi căn cứ. Sau một thời gian chiến đấu vô cùng quyết liệt và quả cảm theo đúng chiến thuật Đặc công, Đại đội 18 đã đè bẹp hoàn toàn sự kháng cự của giặc, làm chủ hoàn toàn trận địa cao điểm.
Ngay sau khi tiếng súng dứt, được sự hỗ trợ kịp thời của lực lượng Bộ binh phối thuộc, đơn vị đã khẩn trương triển khai công tác thương binh – liệt sĩ. Anh em đã tổ chức đưa 11 thi hài liệt sĩ ra xa khỏi phạm vi căn cứ của địch để tổ chức chôn cất chu đáo, trang trọng và tỉ mẩn lập sơ đồ mộ chí thực địa. Trong số 11 người con anh hùng nằm lại nơi đất bạn Lào đêm ấy, có Đại đội trưởng Trần Văn Phước và Đại đội phó Nguyễn Anh Sĩ.
Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để làm gương cho đơn vị, Đại đội trưởng Trần Văn Phước đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 01/10/1971. Đồng chí Trần Văn Phước cùng đồng chí Trịnh Minh Đích là hai cán bộ chỉ huy xuất sắc đầu tiên của Tiểu đoàn 27 Đặc công vinh dự được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND trên chiến trường quốc tế Lào.
Hậu phương son sắt và nghĩa tình người ở lại

Cựu chiến binh , Nhà báo Công Liêm – Người bắc nhịp cầu nghĩa tình tìm lại thông tin hậu phương của liệt sĩ.- Ảnh : Công Liêm
Thông qua nhịp cầu nối nghĩa tình của nhà báo Công Liêm tại Thái Bình, những thông tin về người vợ tào khang của Anh hùng Trần Văn Phước đã được tìm thấy đầy xúc động. Người bạn đời của ông là chị Phạm Thị Tuất, sinh năm 1946. Ngày cưới nhau, hạnh phúc lứa đôi mới chỉ vỏn vẹn được hai ngày thì anh Phước đã phải gác lại tình riêng, khoác ba lô hành quân vào chiến trường khốc liệt.
Trước giờ phút chia ly, anh nắm chặt tay vợ dặn dò nghẹn ngào:
– Lẽ ra, anh phải ở nhà để cùng em chăm lo việc nhà cửa và phụng dưỡng bố mẹ hai bên, nhưng giờ đây tất cả gánh nặng dồn hết lên đôi vai gầy của em... Em ở nhà giữ gìn sức khỏe nhé.
Tiễn chồng ra trận, chị Phạm Thị Tuất ở quê nhà cũng viết đơn tham gia lực lượng dân công hỏa tuyến Quốc phòng, lao vào làm các công trình quân sự ven biển chặng địa bàn Tiền Hải. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chị được điều động về làm công nhân tại Xí nghiệp bánh kẹo Thái Bình. Nhận được tin sét đánh người chồng thân yêu đã anh dũng hy sinh nơi chiến trường Tây Tổ quốc, chị nuốt nước mắt vào trong, thủ tiết thờ chồng và tham gia vào câu lạc bộ phụ nữ đơn thân địa phương.

Bà Phạm Thị Tuất xúc động nâng niu bức ảnh tư liệu thời trẻ của người chồng anh hùng.- Ảnh : Công Liêm
Đến nay, ở tuổi 80, mái tóc đã bạc phơ, chị Tuất đã chuyển về sống nương tựa cùng người em gái ruột của mình là chị Phạm Thị Lanh – một nữ thanh niên xung phong (TNXP) nhiệm kỳ 1. Hai chị em cựu binh đơn thân đang nương tựa, chăm sóc nhau trong một nếp nhà nhỏ bình dị tại thôn Tân Minh, xã Song An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình ( nay là phường Vũ Phúc , tỉnh Hưng Yên ).
Khúc tráng ca thúc giục những binh đoàn
Chiến công bất tử của người Đại đội trưởng Đặc công Trần Văn Phước đã trở thành mạch nguồn cảm hứng lớn lao cho văn nghệ thời chiến. CCB Đoàn Đặc công 429 Lê Hùng Nam bồi hồi chia sẻ: Vào các năm 1972 và 1973, Đoàn văn công (Đoàn Tuyên văn) của Binh chủng Đặc công đã hành quân về các đơn vị đóng quân tại Hà Bắc, Hà Tây để biểu diễn văn nghệ và tuyên truyền truyền thống anh hùng.
Ngày ấy, hình ảnh lẫm liệt của anh Trần Văn Phước thuộc Tiểu đoàn 27 đã đọng lại sâu sắc, lay động tâm trí của lớp lớp lính trẻ chúng tôi qua bài thơ đầy cảm xúc của nhà thơ Y Phương. Những vần thơ ngợi ca anh đã trở thành vũ khí tinh thần tinh nhuệ, thôi thúc và động viên hàng vạn thanh niên hăng hái lên đường ra trận.

CCB Đặc công 429 Lê Hùng Nam ( trái ) & Thành Đô ( bìa phải ) tại sự kiện kỷ niệm 59 năm ngày thành lập Binh chủng Đặc công tổ chức tại xã Vĩnh Lộc , Thanh Hóa , ngày 13/03/2026 - Ảnh : Thành Đô
Hơn 50 năm trôi qua, bài thơ năm nào vẫn vẹn nguyên trong ký ức của người cựu chiến binh Đặc công:
“Tôi biết bài thơ ngợi ca
Trần Văn Phước và điểm cao sáng ngời chiến thắng
Tự hào biết mấy anh Phước ơi! anh có nghe đất dậy
Bàn chân đồng đội hành quân
Nơi anh nằm trắng cánh hoa ban
Như màu xanh quê ta đang vươn lên trong tầm bom dội
Con sông Trà vời vợi chở chiến công
Trên mảnh đất anh đánh quân thù còn vọng tiếng xung phong
Dục cả nước lên đường ra trận..
Anh Phước ơi! Chúng tôi đã về đây
Về với chiến trường miền Tây Tổ Quốc
Nơi có những con đường mòn xuyên rừng quen thuộc
Những hốc đá đêm đêm ngọn lửa bập bùng
Chúng tôi đã về đây với mảnh đất anh hùng
Ơi điểm cao điểm cao
Nơi trùng điệp rừng cây nắng xây lèn đá
Nơi từng chồng chất xác thù
Nơi ngổn ngang những phù hiệu lính dù
Nát vụn dưới bàn chân ta bước
Nơi đồng đội vẫn nhớ anh ơi anh Trần Văn Phước
Nỗi nhớ thiêng liêng thúc giục những binh đoàn
Anh vẫn đứng kia dáng đứng hiên ngang
Gãy nát hai chân vẫn không rời vị trí
Còn hơi thở cuối cùng còn động viên chiến sĩ
Còn lo toan cho đơn vị trưởng thành..
Anh truyền lửa cho ngàn sau tiếp bước
Giữ trọn sơn hà, rạng rỡ non sông!”
Tài liệu tham khảo:
Nhật ký chiến dịch làm nghĩa vụ quốc tế tại Lào của Tiểu đoàn Đặc công 27 – Bộ Tư lệnh Đặc công (12/1/1969 – 8/1970) ].
Lịch sử tuyên dương Anh hùng LLVTND chiến đấu tại chiến trường Lào
Lịch sử truyền thống Lữ đoàn Đặc công bộ 113 .
