Bắc Ninh quan tâm phát triển hai sản phẩm OCOP đặc hữu: Sâm Núi Dành và nấm lim xanh
Trong định hướng phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, ứng dụng khoa học công nghệ và khai thác lợi thế đặc trưng của từng vùng, Bắc Ninh đang dành sự quan tâm ngày càng rõ nét cho nhóm cây dược liệu có giá trị. Trong đó, sâm nam Núi Dành nổi lên như một sản phẩm bản địa cần được bảo tồn, chuẩn hóa và phát triển thành hàng hóa có giá trị cao. Cùng với đó, các sản phẩm nấm dược liệu như nấm lim xanh đang mở thêm hướng đi cho kinh tế nông nghiệp vùng trung du, miền núi.

Cây sâm núi Dành "sâm tiến vua" sản phẩm đặc hữu của Bắc Ninh. Ảnh: vườn sâm HTX Đức Hạnh
Từ lợi thế bản địa đến sản phẩm hàng hóa
Bắc Ninh hiện có điều kiện tự nhiên đa dạng, từ vùng đồng bằng đến trung du và miền núi. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh có khoảng 20.400 ha rừng tự nhiên, trong đó hơn 13.700 ha có cây dược liệu phân bố và phát triển. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế dưới tán rừng và các vùng sản xuất dược liệu theo hướng bền vững. Trong số các loại cây dược liệu, sâm nam Núi Dành có vị trí đặc biệt bởi đây là cây gắn với vùng đất Bắc Ninh, có giá trị về dược liệu, kinh tế và văn hóa địa phương.
Sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh đối với loại cây này được thể hiện khá rõ qua những hoạt động khảo sát, chỉ đạo và đầu tư nghiên cứu. Tháng 11/2025, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Hồng Thái cùng đoàn công tác đã trực tiếp thăm mô hình sản xuất sâm nam Núi Dành tại xã Phúc Hòa, tham quan khu sản xuất và các sản phẩm chế biến từ sâm của Hợp tác xã Sâm Núi Dành Đức Hạnh. Tại đây, lãnh đạo tỉnh đặt vấn đề nghiên cứu xây dựng Đề án của tỉnh về phát triển sâm Núi Dành. Động thái này cho thấy cây sâm không chỉ được nhìn nhận như một sản phẩm của một vài hộ dân hay hợp tác xã, mà đang được đặt trong bài toán phát triển sản phẩm đặc trưng ở quy mô rộng hơn.
Sâm Núi Dành đi vào chiều sâu khoa học
Nếu trước đây phát triển sâm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân, thì hướng đi hiện nay là đưa khoa học công nghệ vào từng khâu của chuỗi giá trị. Năm 2026, tỉnh Bắc Ninh phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, trong đó có nhiệm vụ “Nghiên cứu phát triển Sâm nam núi Dành (Callerya speciosa Champ. ex Benth.) hữu cơ ứng dụng công nghệ số tại tỉnh Bắc Ninh”. Đây là một bước tiến đáng chú ý bởi nhiệm vụ không chỉ tập trung vào kỹ thuật canh tác mà còn đặt cây sâm trong mối liên kết giữa sản xuất hữu cơ, chuyển đổi số, chế biến và thị trường.
Theo thông tin của Báo và Phát thanh, Truyền hình Bắc Ninh, Viện Khoa học Nông nghiệp Tây Bắc được giao chủ trì nhiệm vụ tại xã Phúc Hòa, phối hợp với Hợp tác xã Sâm Núi Dành Đức Hạnh. Nội dung nghiên cứu bao gồm xây dựng quy trình sản xuất hữu cơ, chế biến sâu, xây dựng mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ số theo chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ, đồng thời xây dựng sổ tay thực hành và hệ thống quản lý, truy xuất nguồn gốc. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu hiện nay: một sản phẩm nông nghiệp muốn đi xa phải có chất lượng ổn định, nguồn gốc minh bạch và khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Từ một cây sâm đến một ngành hàng
Thực tế tại Phúc Hòa cho thấy cây sâm Núi Dành đang từng bước hình thành vùng sản xuất. Tháng 11/2025, địa phương có khoảng 74 ha sâm nam Núi Dành; riêng Hợp tác xã Sâm Núi Dành Đức Hạnh có 5 ha, trong đó 4 ha sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, đồng thời liên kết với 30 hộ trên tổng diện tích 15 ha. Hợp tác xã đã phát triển nhiều sản phẩm như củ sâm tươi, sâm khô, hoa sâm, trà sâm, rượu sâm và sâm ngâm mật ong.
Đến tháng 7/2026, Hợp tác xã Dược liệu sinh thái Bắc Ninh được thành lập tại xã Phúc Hòa, với mục tiêu tập hợp các hộ trồng sâm, chuẩn hóa quy trình sản xuất theo hướng VietGAP, hữu cơ, đồng thời làm đầu mối liên kết chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc. Diện tích trồng sâm tại xã được thông tin khoảng 67,5 ha và tiếp tục mở rộng. Những con số và mô hình này cho thấy cây sâm đang chuyển từ sản xuất phân tán sang tổ chức sản xuất có liên kết. Đây chính là điều kiện quan trọng để hình thành một ngành hàng dược liệu đặc trưng của địa phương.

Các nhà khoa học với vườn trồng nấm lim xanh ở HTX Nguyên Dương Tiên Lục Bắc Ninh
Nấm lim xanh mở thêm không gian phát triển sản phẩm OCOP mới
Bên cạnh sâm Núi Dành, nấm lim xanh cũng là một sản phẩm đáng chú ý trong nhóm nấm dược liệu. Khác với cây sâm được trồng ngoài đồng ruộng, nấm có thể được sản xuất trong nhà với điều kiện môi trường được kiểm soát. Đây là lợi thế đối với những địa phương muốn nâng cao giá trị sản xuất trên diện tích không quá lớn. Nấm lim xanh đòi hỏi quy trình kỹ thuật tương đối nghiêm ngặt, từ lựa chọn giống, xử lý giá thể, đóng và khử trùng phôi đến kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và vệ sinh nhà trồng.
Bắc Ninh cũng đã đưa nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất lúa, khoai tây, nấm vào danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh đặt hàng năm 2026. Điều này cho thấy sản xuất nấm đang được tiếp cận không chỉ ở góc độ một sản phẩm riêng lẻ mà trong mối quan hệ với kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu.
Đối với nấm lim xanh, hướng phát triển cần đặc biệt coi trọng việc làm chủ giống, quy trình nuôi trồng và chất lượng sản phẩm. Nếu kiểm soát được công nghệ, nấm dược liệu có thể trở thành một lĩnh vực sản xuất phù hợp với mô hình nông nghiệp công nghệ cao.
Không chạy theo phong trào
Sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh đối với sâm Núi Dành và định hướng phát triển nấm cần được đặt trong bức tranh lớn hơn của quá trình chuyển đổi nông nghiệp Bắc Ninh. Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định phát triển nông nghiệp giai đoạn 2026–2030 theo hướng an toàn, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và dựa trên lợi thế địa phương.
Điều đó có nghĩa, phát triển sâm hay nấm lim xanh không thể chỉ dừng ở mở rộng diện tích. Cần đồng thời giải quyết bài toán giống, kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, chế biến, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và thị trường. Đặc biệt với sản phẩm dược liệu, việc truyền thông về công dụng cần dựa trên bằng chứng khoa học và quy định pháp luật, tránh thương mại hóa bằng những tuyên bố quá mức.
Kỳ vọng hình thành những sản phẩm đặc trưng
Sâm Núi Dành và nấm lim xanh có những đặc điểm khác nhau, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: đều có khả năng tạo ra giá trị cao hơn nếu được đầu tư đúng hướng. Với sâm Núi Dành, Bắc Ninh đang có những bước đi khá cụ thể: khảo sát vùng sản xuất, nghiên cứu hữu cơ, ứng dụng công nghệ số, phát triển chế biến sâu và tổ chức lại sản xuất thông qua hợp tác xã. Với nấm, định hướng khoa học công nghệ và kinh tế tuần hoàn mở ra cơ sở để phát triển những mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng vùng.
Nếu được kết nối thành chuỗi, từ vùng nguyên liệu đến chế biến, thương mại và du lịch trải nghiệm, các sản phẩm dược liệu có thể đóng góp vào quá trình nâng cao giá trị nông nghiệp và tạo thêm sinh kế cho khu vực nông thôn. Điều quan trọng là không phát triển theo phong trào mà phải dựa trên khoa học, thị trường và lợi thế thực tế của từng địa phương.
Từ sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh đến những mô hình đang được triển khai ở cơ sở, sâm Núi Dành và nấm dược liệu đang có thêm điều kiện để bước sang một giai đoạn phát triển mới. Nếu tiếp tục được đầu tư về khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất và chế biến sâu, những sản phẩm này không chỉ mang lại giá trị kinh tế cho người dân mà còn góp phần tạo dựng hình ảnh một nền nông nghiệp Bắc Ninh hiện đại, xanh, có bản sắc và dựa trên tri thức./.

