Bắc Ninh và sứ mệnh giữ gìn di sản UNESCO trong dòng chảy mới - Bài 1:Những giá trị làm nên chiều sâu văn hóa Kinh Bắc

Lời Tòa soạn: Từ những làn điệu Quan họ vang lên trong các làng quê Kinh Bắc đến những tấm mộc bản lưu giữ dấu ấn Thiền phái Trúc Lâm; từ nghi lễ kéo co Hữu Chấp, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, thực hành Then đến nghề làm tranh dân gian Đông Hồ và Quần thể danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, Bắc Ninh đang sở hữu một hệ thống di sản được UNESCO ghi danh với nhiều loại hình, nhiều tầng giá trị. Đó không chỉ là niềm tự hào mà còn là trách nhiệm lớn đối với một vùng đất đang bước vào không gian phát triển mới. Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương, có hiệu lực từ ngày 20/9/2026, định hướng xây dựng một đô thị xanh, thông minh, hiện đại, giàu bản sắc Kinh Bắc. Trong bước chuyển ấy, bài toán đặt ra không phải lựa chọn giữa bảo tồn và phát triển, mà là tìm được cách để di sản UNESCO được bảo vệ bằng chính sức mạnh của phát triển, trở thành nguồn lực cho du lịch và công nghiệp văn hóa, đồng thời giữ được những giá trị làm nên bản sắc Bắc Ninh - Kinh Bắc.

Tám di sản UNESCO trên địa bàn Bắc Ninh là tám lát cắt của một không gian văn hóa rộng lớn. Đằng sau những danh hiệu là sự nỗ lực của cộng đồng đã sáng tạo, gìn giữ và trao truyền giá trị qua nhiều thế hệ. Bảo tồn vì thế không chỉ là giữ lại quá khứ, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống hôm nay.

 Tỉnh Bắc Ninh đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Tỉnh Bắc Ninh đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Dân ca Quan họ - "Thương hiệu" văn hóa Kinh Bắc

Dân ca Quan họ là một trong những biểu tượng đặc sắc nhất của văn hóa Kinh Bắc. Năm 2009, Quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong hồ sơ, UNESCO không chỉ nhấn mạnh những làn điệu, lời ca mà còn đề cập đến các phong tục, tập quán xã hội và mối liên kết giữa các cộng đồng làng Quan họ. Điều làm nên sức sống của Quan họ trước hết nằm ở tính cộng đồng.

 Chị hai, chị ba quan họ xúng xính trảy hội xuân.

Chị hai, chị ba quan họ xúng xính trảy hội xuân.

Quan họ được thực hành trong lễ hội, các cuộc gặp gỡ và những sinh hoạt văn hóa của làng. Cách mời trầu, xưng hô, đối đáp, giữ ý trong giao duyên và tục kết bạn Quan họ tạo nên một hệ thống ứng xử rất riêng. UNESCO ghi nhận Quan họ có hơn 400 lời ca với 213 biến thể giai điệu. Sức sống của di sản nằm ở chỗ câu hát được đặt trong một quan hệ xã hội, trong không gian làng quê và trong những quy ước ứng xử mà cộng đồng tiếp tục trao truyền.

Bắc Ninh có 8 di sản được UNESCO ghi danh, công nhận không chỉ là niềm tự hào của địa phương, mà còn là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với chiều sâu văn hóa Kinh Bắc. Các di sản thuộc nhiều loại hình khác nhau, từ dân ca, tín ngưỡng, nghề thủ công truyền thống đến di sản tư liệu và quần thể di tích - danh thắng. Đây là những di sản rất tiêu biểu kết tinh từ chiều sâu lịch sử, bản sắc văn hóa, sức sáng tạo bền bỉ của cộng đồng cư dân qua nhiều thế hệ.

Thực tế, di sản Dân ca Quan họ Bắc Ninh ngày càng có ảnh hưởng ở trong nước và trên thế giới. Quan họ còn thường xuyên xuất hiện ở nhiều sự kiện chính trị, hoạt động đối ngoại, chương trình đón tiếp nguyên thủ quốc gia và giao lưu với bạn bè quốc tế. Vì thế, quan họ không những góp phần quảng bá bản sắc, mà còn tạo dựng thiện cảm, gia tăng sức hấp dẫn văn hóa, củng cố sức mạnh mềm và nâng cao hình ảnh, vị thế Việt Nam trong giao lưu quốc tế. Đặc biệt, Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một đại diện tiêu biểu được tôn vinh và giới thiệu rộng rãi như một "căn cước văn hóa" độc đáo của Việt Nam với thế giới.

Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà – Dấu ấn Phật giáo mang hồn Việt

Ngày 12/7/2025, tại Kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới, Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc (trong đó chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà) được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

 Chùa Vĩnh Nghiêm (phường Tân An).

Chùa Vĩnh Nghiêm (phường Tân An).

Quần thể là không gian di sản liên hoàn thuộc Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, phản ánh quá trình hình thành, phát triển và lan tỏa của Thiền phái Trúc Lâm - dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà là những trung tâm Phật giáo lớn, nơi lưu giữ giá trị kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc gỗ và hàng ngàn mộc bản kinh Phật vô giá.

 Cổng chùa Bổ Đà (phường Vân Hà) rêu phong, cổ kính.

Cổng chùa Bổ Đà (phường Vân Hà) rêu phong, cổ kính.

Nơi đây ghi dấu sự hình thành, phát triển rực rỡ của Thiền phái Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập - tư tưởng Phật giáo nhập thế mang bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam. Điểm đặc biệt của di sản là giá trị không nằm ở một di tích riêng lẻ, mà ở mối liên hệ giữa núi rừng, chùa tháp, di tích lịch sử, tư tưởng Phật giáo, đường hành hương, lễ hội và đời sống cộng đồng.

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm – Giá trị lịch sử, tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật

Nếu các di sản phi vật thể chủ yếu tồn tại trong thực hành của cộng đồng thì Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm mang một hình thức khác: Tri thức được lưu giữ trong những tấm gỗ. Bộ mộc bản mang giá trị độc bản, phản ánh bước phát triển đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo Việt Nam mang đậm tính dân tộc.

 Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm.

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm.

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được ghi danh vào Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 2012. Chùa Vĩnh Nghiêm (ở phường Tân An) hiện lưu giữ 3.050 tấm mộc bản với hơn 6.000 mặt khắc kinh sách Phật giáo và Trúc Lâm bằng chữ Hán - Nôm. Đây là nguồn tư liệu có giá trị đặc biệt đối với nghiên cứu lịch sử Phật giáo, Thiền phái Trúc Lâm và nghệ thuật khắc in truyền thống Việt Nam. Điều quý giá của mộc bản không chỉ nằm ở tuổi đời hay chất liệu gỗ. Trên mỗi bản khắc là dấu vết của một quá trình biên soạn, khắc in và truyền bá tri thức. Vì vậy, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đồng thời mang giá trị tư liệu, lịch sử, tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật và kỹ thuật.

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ – Tinh hoa trong từng nét khắc, màu tranh

Năm 2025, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (ở phường Thuận Thành) được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Tranh dân gian Đông Hồ là biểu tượng văn hóa Việt giàu giá trị thẩm mỹ và giáo dục nhân văn.

 Làng tranh dân gian Đông Hồ trở thành điểm du lịch thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế tham quan.

Làng tranh dân gian Đông Hồ trở thành điểm du lịch thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế tham quan.

Dòng tranh này gồm 5 chủ đề chính gồm: Tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện/sự tích, tranh thờ, tranh sinh hoạt. Chất liệu làm tranh hoàn toàn từ hoa, lá, cỏ, cây, sỏi son, sò điệp trong thiên nhiên. Giá trị của tranh Đông Hồ nằm trong cả một hệ thống tri thức nghề: Từ sáng tác mẫu, khắc ván, làm giấy điệp, chế màu đến in tranh và hoàn thiện sản phẩm. Mỗi công đoạn chứa đựng kinh nghiệm được tích lũy, trao truyền qua nhiều thế hệ.

Điều đáng nói là tranh Đông Hồ không chỉ có giá trị thẩm mỹ. Những hình ảnh về sinh hoạt, phong tục, đạo lý, lao động, ước vọng và đời sống gia đình khiến dòng tranh trở thành một dạng “ngôn ngữ văn hóa” gần gũi với người Việt. Toàn bộ quy trình thủ công từ vẽ, khắc gỗ đến in từng màu tạo nên nét riêng khó thay thế của nghề. Ngày nay, tranh Đông Hồ đổi mới đa dạng sản phẩm, được giới thiệu, trưng bày quảng bá ở nhiều quốc gia trên thế giới và trở thành sản phẩm quà tặng, trang trí đậm bản sắc văn hóa Việt Nam.

Kéo co Hữu Chấp - trò chơi trở thành nghi lễ cộng đồng

Nếu Quan họ cho thấy chiều sâu trong cách con người giao tiếp với nhau thì kéo co Hữu Chấp (phường Kinh Bắc) lại cho thấy sức mạnh cộng đồng được kết tinh trong một nghi lễ dân gian. Nghi lễ và trò chơi kéo co được UNESCO ghi danh năm 2015 vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. UNESCO nhìn nhận kéo co trong các cộng đồng nông nghiệp lúa nước không đơn thuần là trò chơi thi đấu mà thường gắn với nghi lễ, cầu mùa, mong ước sinh sôi, thịnh vượng và củng cố tinh thần đoàn kết.

 Di sản Nghi lễ và trò chơi kéo co Hữu Chấp (phường Kinh Bắc) được cộng đồng địa phương bảo tồn và phát huy hiệu quả trong đời sống đương đại.

Di sản Nghi lễ và trò chơi kéo co Hữu Chấp (phường Kinh Bắc) được cộng đồng địa phương bảo tồn và phát huy hiệu quả trong đời sống đương đại.

Tại Hữu Chấp, người dân chia người chơi thành hai phía Đông và Tây; kết quả cuộc kéo co mang ý nghĩa nghi lễ, trong đó phía Đông thắng được xem là biểu tượng của một vụ mùa tốt lành. Điều quan trọng vì thế không nằm ở thắng - thua. Sợi dây kéo co nối những người tham gia vào ký ức chung của làng, nơi người cao tuổi truyền lại quy ước, lớp trẻ tiếp nhận và cùng thực hành trong không gian lễ hội.

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt- không gian văn hóa sống động

Tháng 12/2016, Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là sự kết hợp hài hòa giữa nghi lễ chầu văn, âm nhạc, vũ điệu, trang phục và nghệ thuật sắp đặt. Bắc Ninh - Kinh Bắc được xem là cội nguồn Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.

 Nghệ nhân dân gian Trần Thị The (xã Trung Chính) thực hành diễn xướng chầu văn.

Nghệ nhân dân gian Trần Thị The (xã Trung Chính) thực hành diễn xướng chầu văn.

Thống kê sơ bộ, toàn tỉnh có gần 1.000 di tích thờ mẫu, trong đó có những ngôi đền thờ Mẫu nổi tiếng linh thiêng như: Đền Bà Chúa Kho, đền Bà Chúa Then, đền Suối Mỡ, đền Cùng giếng Ngọc, đền Tam Phủ...Đằng sau nghi lễ còn là hệ thống biểu tượng phản ánh cách cộng đồng nhìn nhận con người, tự nhiên và cuộc sống

Ca trù-Nghệ thuật bác học, tao nhã

Tháng 10/2009, Nghệ thuật Ca trù được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Bắc Ninh là một trong số địa phương còn bảo tồn và gìn giữ di sản ca trù.

 Thành viên câu lạc bộ ca trù phường Thuận Thành thực hành diễn xướng ca trù.

Thành viên câu lạc bộ ca trù phường Thuận Thành thực hành diễn xướng ca trù.

Ca trù là nghệ thuật bác học, tao nhã, kết hợp tinh tế giữa thi ca, âm nhạc và vũ điệu qua hệ thống thể cách phong phú cùng nhạc cụ độc đáo (đàn đáy, phách, trống chầu). Thịnh hành từ thế kỷ XV, ca trù trên đất Kinh Bắc - Bắc Ninh sở hữu sức sống bền bỉ với đa dạng hình thức diễn xướng (hát cửa đình, cửa quyền, ca quán...) và có nhiều phường hát, nhiều dòng họ ca công nổi tiếng.

Ngày nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh còn một số câu lạc bộ ca trù duy trì sinh hoạt tại các địa phương như Thuận Thành, Yên Phong, Gia Bình, Hiệp Hòa, Vân Hà...

Thực hành Then -mạch nguồn văn hóa từ cộng đồng dân tộc thiểu số

Tháng 12/2019, Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Thực hành Then là nghi lễ tín ngưỡng dân gian diễn xướng tổng hợp gồm âm nhạc, ca hát, múa và nghệ thuật tạo hình của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái.

 Tỉnh Bắc Ninh luôn quan tâm khuyến khích hoạt động sáng tạo, phát triển then mới song hành với then cổ.

Tỉnh Bắc Ninh luôn quan tâm khuyến khích hoạt động sáng tạo, phát triển then mới song hành với then cổ.

Bắc Ninh có không gian văn hóa then phát triển ngày càng sâu rộng ở nhiều xã, phường vùng cao như Tân Sơn, Biên Sơn, Trường Sơn, Lục Nam, Lục Ngạn... Tỉnh Bắc Ninh luôn quan tâm khuyến khích hoạt động sáng tạo, phát triển then mới song hành với then cổ, đưa then vào trường học, mở nhiều lớp truyền dạy, tổ chức các liên hoan, hỗ trợ nghệ nhân và tạo thêm nhiều không gian diễn xướng... Di sản hát then còn được đưa vào trong các chương trình giao lưu văn hóa, tour du lịch cộng đồng, trở thành một trong những sản phẩm văn hoá, du lịch đặc sắc của tỉnh.

Nhóm PV (còn nữa)

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/bac-ninh-va-su-menh-giu-gin-di-san-unesco-trong-dong-chay-moi-bai-1-nhung-gia-tri-lam-nen-chieu-sau-van-hoa-kinh-bac-postid453447.bbg