Bài 2: Cam kết về một nền nông nghiệp minh bạch

Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) xác định, sản xuất phát thải thấp không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm mà đang từng bước trở thành yêu cầu tất yếu đối với các ngành hàng nông sản chủ lực. Trong bối cảnh nhiều thị trường lớn ngày càng siết chặt các quy định liên quan đến phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, việc tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng xanh được xem là giải pháp quan trọng để duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu.

Đến năm 2035, giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính

Những cánh đồng lúa phát thải thấp mới chỉ là điểm mở đầu cho hành trình chuyển đổi toàn diện của ngành Nông nghiệp Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và Net Zero (phát thải ròng bằng 0). Bộ NN&MT đã công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050". Đây là bước đi chiến lược nhằm đưa ngành trồng trọt phát triển theo hướng sinh thái, hiện đại, phát thải thấp, đồng thời khẳng định vai trò tiên phong của Việt Nam trong khu vực về nông sản có trách nhiệm với khí hậu.

Nội dung đề án nêu rõ, đến năm 2035, ngành trồng trọt phải giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm 2020. Mỗi tỉnh, thành triển khai ít nhất 1-2 mô hình sản xuất giảm phát thải có khả năng nhân rộng, thí điểm tối thiểu 15 mô hình phục vụ phát triển tín chỉ carbon, ban hành ít nhất 5 gói kỹ thuật áp dụng cho cây trồng chủ lực và xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải kết nối đồng bộ với hệ thống quốc gia. Tầm nhìn đến năm 2050, toàn ngành hướng tới 100% diện tích cây trồng chủ lực áp dụng quy trình canh tác bền vững, phổ cập nhãn hiệu “Phát thải thấp” và hình thành cơ sở dữ liệu số hóa toàn diện.

Thiết bị đo khí phát thải được thí điểm trên đồng ruộng ở thành phố Hải Phòng.

Thiết bị đo khí phát thải được thí điểm trên đồng ruộng ở thành phố Hải Phòng.

Đề án không chỉ đơn giản là một nhiệm vụ chuyên môn thuần túy mà còn là cam kết của Việt Nam về một nền nông nghiệp minh bạch, trách nhiệm; góp phần đáng kể vào việc thực hiện cam kết chính trị quan trọng về Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) và mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Về các mục tiêu của đề án, tầm nhìn tới năm 2050, 100% diện tích các loại cây trồng chủ lực áp dụng quy trình kỹ thuật canh tác theo hướng giảm phát thải. Ngoài ra, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải trong trồng trọt, tích hợp với hệ thống giám sát quốc gia; xây dựng và phổ cập nhãn hiệu “phát thải thấp” cho các ngành hàng nông sản chủ lực.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) thông tin, đến nay đã có 22 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch hành động sản xuất giảm phát thải. Nhiều địa phương, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế cũng đăng ký tham gia các chương trình, mô hình sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt.

Theo bà Hương, một số địa phương đã bắt đầu triển khai mô hình cụ thể. Tại Quảng Trị, mô hình lúa giảm phát thải được thực hiện tại 13 xã với diện tích hơn 6.000 ha. Trong khi đó, Hưng Yên dự kiến triển khai mô hình giảm phát thải trên 3.000 ha lúa trong năm 2026, áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ kết hợp thiết bị đo đếm phát thải.

Các hoạt động trọng tâm hiện nay tập trung vào sử dụng hiệu quả phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới; tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp; phát triển nông nghiệp tuần hoàn; ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải.

Trong năm 2026, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ hoàn thiện quy trình kỹ thuật đối với các cây trồng chủ lực như lúa, ngô, cà phê và sầu riêng; đồng thời triển khai các mô hình xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học, mô hình biochar (than sinh học) và tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn về sản xuất giảm phát thải cho cán bộ kỹ thuật và nông dân. Với cây cà phê, ngành tập trung xây dựng các mô hình cà phê tuần hoàn, tưới tiết kiệm, sử dụng phân hữu cơ, tái sử dụng phụ phẩm và phục hồi sức khỏe đất tại Tây Nguyên và Sơn La; đồng thời thí điểm vùng cà phê phát thải thấp gắn với truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu bền vững.

Đã có 22 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch hành động sản xuất giảm phát thải.

Đã có 22 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch hành động sản xuất giảm phát thải.

Đối với cây ăn quả, các mô hình giảm phát thải sẽ tập trung trên sầu riêng, thanh long, bưởi, chanh dây và xoài, gắn với quản lý nước tưới, sử dụng phân bón hữu cơ, xử lý phụ phẩm và đáp ứng tiêu chuẩn xanh của thị trường xuất khẩu. Quá trình sản xuất sẽ gắn với mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh từ đồng ruộng đến bàn ăn

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường cho hay, qua thực tiễn tại một số địa phương, khi áp dụng đúng cách và đồng bộ các mô hình nông nghiệp giảm phát thải, năng suất có thể cao hơn và đem lại hiệu quả kinh tế tốt hơn.

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ cũng nhấn mạnh về tầm quan trọng của các cán bộ kỹ thuật trong việc hướng dẫn người nông dân thực hành trong giai đoạn đầu tiên để làm quen với kỹ thuật mới và thực hiện đúng quy trình. Qua đó, giúp người nông dân có thể yên tâm hơn về mặt chi phí, năng suất.

"Khi người nông dân yên tâm về năng suất và chất lượng, họ sẽ chính là những người tuyên truyền tốt nhất cho việc áp dụng những giải pháp canh tác lúa phát thải thấp", PGS.TS Nguyễn Đình Thọ nhận định.

Theo Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, không chỉ trong trồng trọt, kể cả chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản, người nông dân đều có thể áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn thay vì chỉ tập trung vào một sản phẩm như cách truyền thống. Khi tập trung vào một sản phẩm, người nông dân sẽ liên tục gặp phải vấn đề "được mùa mất giá, được giá mất mùa", thay vào đó mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp sẽ giúp tăng năng suất, giảm chi phí và nâng cao mức sống cho người nông dân.

Với cây ăn quả, quá trình sản xuất phát thải thấp sẽ gắn với mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xuất khẩu.

Với cây ăn quả, quá trình sản xuất phát thải thấp sẽ gắn với mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xuất khẩu.

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ phân tích, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đặt nền móng cho việc áp dụng nhiều công cụ quản lý hiện đại như kiểm kê khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn hay thị trường carbon. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng cho thấy, nhiều nội dung cần được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh mới.

Nông nghiệp là một trong những lĩnh vực có tiềm năng rất lớn để giảm phát thải. Không chỉ lâm nghiệp có khả năng hấp thụ carbon, mà trồng lúa, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản cũng có thể tạo ra nguồn tín chỉ carbon nếu tổ chức sản xuất theo quy trình phù hợp.

Thực tế đã chứng minh điều đó khi tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang từng bước mang lại những kết quả tích cực. Nhiều địa phương như Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang... đã áp dụng phương pháp tưới ngập - khô xen kẽ, giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân bón hợp lý và quản lý rơm rạ sau thu hoạch.

PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thực hiện đồng thời ba mục tiêu là bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao thu nhập cho nông dân và giảm tác động đến môi trường. Điều này đòi hỏi một cuộc chuyển đổi căn bản từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao.

PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam: “Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp phải được thực hiện từ đồng ruộng đến bàn ăn, từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Khi đó, giá trị gia tăng không chỉ đến từ sản lượng mà còn từ chất lượng môi trường, sức khỏe cộng đồng và khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam”.

Nông nghiệp Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để thực hiện cuộc chuyển đổi này. Hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tiêu dùng xanh gia tăng và cam kết quốc tế về giảm phát thải đang tạo động lực thúc đẩy thay đổi. “Nhưng để mở rộng quy mô, cần tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong. Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, thông minh không chỉ là giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn là cơ hội để tái định vị nền nông nghiệp Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đây cũng chính là con đường để nông nghiệp Việt Nam phát triển lâu dài trong kỷ nguyên tăng trưởng xanh và kinh tế carbon thấp”, PGS.TS Đào Thế Anh khẳng định.

Theo các chuyên gia, khi người nông dân nhìn thấy lợi ích rõ ràng về năng suất, chi phí và đầu ra sản phẩm, quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp xanh sẽ diễn ra nhanh hơn. Khi đó, mục tiêu giảm phát thải sẽ không còn là áp lực mà trở thành động lực để nâng cao giá trị nông sản và phát triển nông nghiệp bền vững.

Ngọc Yến - Trần Huy

Nguồn CAND: https://cand.vn/bai-2-cam-ket-ve-mot-nen-nong-nghiep-minh-bach-post821050.html