Bám đất, bám bản vươn lên từ chăn nuôi nơi vùng cao

Ở nhiều địa bàn vùng cao trong tỉnh, quỹ đất sản xuất hạn hẹp, địa hình dốc núi từ lâu là bài toán nan giải đối với người dân địa phương. Tuy nhiên, thay vì 'đầu hàng' trước khó khăn, không ít hộ gia đình đã tìm được cách phát triển kinh tế từ chăn nuôi, bằng việc lựa chọn những giống vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên nơi mình đang sống.

Nuôi dê tận dụng địa hình sườn núi

Anh Giàng A Chung, người Mông ở thôn Tà Chử, xã Phình Hồ, từng chăn nuôi trâu, bò, lợn như nhiều hộ dân trong vùng. Tuy nhiên, do đầu ra sản phẩm thiếu ổn định, trong khi quỹ đất sản xuất của gia đình hạn hẹp, việc mở rộng quy mô chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế không như kỳ vọng.

Khoảng 7 - 8 năm trước, anh Chung mạnh dạn chuyển hướng sang nuôi dê. Qua quá trình thử nghiệm, anh nhận thấy đây là vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng núi cao nơi anh sống.

 Anh Giàng A Chung nuôi dê để phát triển kinh tế.

Anh Giàng A Chung nuôi dê để phát triển kinh tế.

Anh Giàng A Chung cho hay: Dê thích nghi tốt với địa hình dốc. Chúng leo trèo khỏe, tự kiếm ăn được ở những chỗ trâu, bò không thể tiếp cận. Mùa đông, cỏ khan hiếm thì chúng ăn lá cây trong rừng.

 Dê thích nghi tốt với địa hình đất dốc.

Dê thích nghi tốt với địa hình đất dốc.

Hiện tại, anh Chung duy trì đàn dê từ 35 - 40 con mỗi năm, bao gồm cả dê sinh sản và dê thương phẩm. Trong đó, đàn dê mẹ khoảng 10 con, mỗi năm cho sinh sản khoảng 20 dê con. Nhờ đó, gia đình vừa chủ động được nguồn giống để tái đàn, vừa có dê thịt xuất bán, tạo nguồn thu ổn định.

 Anh Giàng A Chung duy trì đàn dê khoảng 35 - 40 con mỗi năm.

Anh Giàng A Chung duy trì đàn dê khoảng 35 - 40 con mỗi năm.

"Giá dê thịt hiện nay khoảng 120 nghìn đồng/kg. Mỗi năm gia đình tôi bán được khoảng 40 triệu đồng. So với nuôi trâu, bò hay lợn thì nuôi dê thu nhập ổn định hơn nhiều" - anh Chung cho biết thêm.

Tuy vậy, nuôi dê cũng phát sinh những vấn đề riêng. Đàn dê đôi khi mắc các bệnh như đau dạ dày, ghẻ, song đều được anh Chung phát hiện và xử lý kịp thời bằng thuốc thú y sẵn có tại địa phương. Bên cạnh đó, chuồng trại luôn được giữ gìn sạch sẽ; thức ăn được điều chỉnh linh hoạt theo mùa, bảo đảm đàn dê được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng.

Cách đây 3 năm, anh Chung được chính quyền xã hỗ trợ gần 10 triệu đồng để xây dựng chuồng trại chăn nuôi. Thời gian tới, anh mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ về con giống, kỹ thuật chăn nuôi và có thể tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi nhằm mở rộng quy mô.

Lợn bản địa thích ứng khí hậu và địa hình

Ở thôn Tấu Trên, xã Trạm Tấu, anh Mùa A Chờ lại lựa chọn phát triển kinh tế từ chăn nuôi lợn đen bản địa của người Mông. Vùng này quỹ đất sản xuất hạn chế, địa hình chủ yếu là đồi núi dốc, theo anh Chờ, yếu tố quan trọng nhất để chăn nuôi hiệu quả là phải lựa chọn được vật nuôi phù hợp với địa hình và khí hậu.

Từ năm 2015, anh bắt đầu nuôi lợn Mông, đây là giống lợn quen thuộc với đồng bào vùng cao từ lâu đời. Ưu điểm của giống lợn này là dễ nuôi, sức đề kháng tốt, chịu được khí hậu lạnh và thích nghi với địa hình dốc, phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại địa phương.

 Anh Mùa A Chờ phát triển chăn nuôi giống lợn đen bản địa của người Mông.

Anh Mùa A Chờ phát triển chăn nuôi giống lợn đen bản địa của người Mông.

Tuy nhiên, để phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, anh Chờ áp dụng hình thức nuôi bán thả. Anh quây một khoảng đất trong phạm vi diện tích của gia đình, đủ rộng để đàn lợn được tự do vận động. Cách làm này vừa tiết kiệm chi phí đầu tư chuồng trại, vừa phù hợp với tập tính sinh trưởng tự nhiên của giống lợn bản địa.

Anh Mùa A Chờ chia sẻ: Trước đây bà con hay thả rông lợn trong rừng, nuôi tự nhiên. Giờ tôi quây đất lại, nuôi kiểu bán thả.

 Lợn được nuôi theo hình thức bán chăn thả, chỉ làm mái che đơn giản.

Lợn được nuôi theo hình thức bán chăn thả, chỉ làm mái che đơn giản.

Do địa hình mấp mô, không thuận lợi để xây chuồng kiên cố, anh Chờ chỉ dựng mái che đơn giản để tránh mưa nắng và giữ ấm khi lợn sinh sản. Thức ăn của đàn lợn chủ yếu là chuối rừng tự nhiên, ngô, sắn và cám. Mỗi lứa lợn sau 5 - 7 tháng nuôi đạt trọng lượng khoảng 60 - 70 kg, thịt chắc, thơm, được người tiêu dùng ưa chuộng.

 Mô hình chăn nuôi của anh Mùa A Chờ góp phần bảo tồn giống lợn bản địa của người Mông.

Mô hình chăn nuôi của anh Mùa A Chờ góp phần bảo tồn giống lợn bản địa của người Mông.

Anh Chờ cũng rất chú trọng việc chọn giống. Hàng năm, anh để lại những con lợn nái khỏe mạnh để sinh sản, từng bước mở rộng đàn. Hiện tại, gia đình anh nuôi gần 40 con, bao gồm lợn nái sinh sản, lợn giống và lợn thịt. Trung bình mỗi năm, sau khi trừ chi phí, mô hình này mang lại cho gia đình anh khoảng 80 triệu đồng. Không chỉ góp phần nâng cao đời sống, mô hình của anh còn góp phần bảo tồn giống lợn bản địa đặc trưng của người Mông.

Nuôi gà khai thác giá trị đất hẹp

Anh Đinh Văn Thăng ở thôn Hùng Thịnh, xã Cát Thịnh trước đây từng làm nghề thiết kế, in ấn quảng cáo. Sau vài năm làm việc này, anh quyết định trở về quê hương tìm hướng phát triển kinh tế nông nghiệp trên mảnh đất của gia đình.

Diện tích đất của gia đình anh Thăng không quá rộng và nằm sâu trong thôn, khiến việc trồng trọt khó mang lại hiệu quả kinh tế. Vì vậy, anh quyết định tập trung vào chăn nuôi, lựa chọn mô hình gà thịt bán chăn thả. Cách đây bốn năm, anh bắt đầu thử nghiệm với quy mô nhỏ, vừa làm vừa tích lũy kinh nghiệm. Thấy hiệu quả, anh dần mở rộng đàn dần dần.

 Anh Đinh Văn Thăng đầu tư chăn nuôi gà bán chăn thả.

Anh Đinh Văn Thăng đầu tư chăn nuôi gà bán chăn thả.

Hiện nay, anh Thăng nuôi gà trên diện tích khoảng 300 m². Anh nhập gà giống từ lúc 1 ngày tuổi và nuôi trong 4 - 5 tháng, với quy mô khoảng 1.000 con mỗi lứa. Trung bình mỗi năm, anh nuôi được 2 - 3 lứa. Nhờ cung cấp gà cho các nhà hàng tại địa phương nên đầu ra khá ổn định, không phải lo bán lẻ, giá cả đàm phán trước, giao hàng đều đặn. Với mô hình hiện tại, trung bình mỗi năm gia đình anh Thăng thu về khoảng 200 triệu đồng lợi nhuận.

 Nuôi gà phù hợp với điều kiện đất đai của gia đình anh Đinh Văn Thăng.

Nuôi gà phù hợp với điều kiện đất đai của gia đình anh Đinh Văn Thăng.

Anh Đinh Văn Thăng chia sẻ: Qua mấy năm nuôi gà, tôi thấy hướng đi này rất phù hợp với điều kiện đất đai và sức lao động của mình. Vì vậy, tôi đã tích lũy được vốn và mua thêm đất, chuẩn bị mở rộng diện tích chăn nuôi.

 Người dân vùng cao đang chủ động phát triển các mô hình chăn nuôi phù hợp với đặc thù về điều kiện tự nhiên.

Người dân vùng cao đang chủ động phát triển các mô hình chăn nuôi phù hợp với đặc thù về điều kiện tự nhiên.

Những câu chuyện chăn nuôi của anh Chung, anh Chờ và anh Thăng không chỉ là thành công cá nhân, mà còn là minh chứng sống động cho tinh thần vươn lên mạnh mẽ của người dân vùng cao. Chủ động vượt qua những khó khăn từ điều kiện tự nhiên, tìm kiếm hướng phát triển nông nghiệp “thuận thiên”, họ đã xây dựng được sinh kế ổn định nhờ sự kiên trì, cần cù và tình yêu quê hương.

Thu Hạnh

Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/bam-dat-bam-ban-vuon-len-tu-chan-nuoi-noi-vung-cao-post891080.html