Bảo đảm an ninh năng lượng
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Để nền kinh tế tăng tốc, yêu cầu đặt ra với ngành điện là bảo đảm đủ sản lượng, đáp ứng các phụ tải mới với yêu cầu ngày càng cao về tính liên tục, ổn định và chất lượng.

Các mái nhà tại Khu công nghiệp Tân Kim mở rộng tỉnh Tây Ninh, đều được lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái để góp phần chủ động nguồn cung năng lượng.
Điện phải đi trước nhu cầu tăng trưởng
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, sản lượng điện thương phẩm dự kiến đạt khoảng 500,4-557,8 tỷ kWh, công suất cực đại khoảng 89.655-99.934 MW. Nhu cầu điện được dự báo tăng 10,5-12,9%/năm trong giai đoạn này.
Những biến động địa chính trị thế giới trong năm 2026 cho thấy năng lượng có thể trở thành một điểm dễ tổn thương của nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, bài toán năng lượng phải được chuẩn bị, đi trước một bước so với nhu cầu tăng trưởng. Không chỉ đủ về sản lượng, điện còn phải được cung cấp đúng nơi, đúng thời điểm với độ ổn định và chi phí phù hợp. Đây cũng là một trong những điều kiện quan trọng đối với quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất và hình thành các ngành kinh tế mới.
Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công thương) Bùi Quốc Hùng cho biết, Bộ Công thương đang rà soát, điều chỉnh cơ cấu nguồn điện giữa các vùng, miền; đẩy nhanh việc ban hành khung giá phát điện cho năng lượng tái tạo năm 2026. Cùng với đó, cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), tạo hành lang pháp lý minh bạch và thu hút thêm nguồn lực xã hội đầu tư vào ngành điện.
Với vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh năng lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã xây dựng kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn lên tới 830.000 tỷ đồng. EVN sẽ tập trung hoàn thành 15 dự án nguồn điện trọng điểm với tổng công suất hơn 6.000MW, trong đó có Nhiệt điện Quảng Trạch 1, LNG Quảng Trạch 2, các dự án thủy điện mở rộng và Thủy điện tích năng Bác Ái. EVN cũng dự kiến triển khai 2.000MW hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) và đưa vào vận hành gần 300 dự án lưới điện truyền tải 220kV-500kV.
Tuy nhiên, phía sau yêu cầu tăng công suất nguồn điện còn là bài toán đáp ứng những động lực tăng trưởng mới. Công nghiệp công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và các hệ thống số quy mô lớn đều phụ thuộc ngày càng nhiều vào điện năng.
Với vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh năng lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã xây dựng kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn lên tới 830.000 tỷ đồng.
Thực tế ghi nhận tại Khu công nghiệp Tân Kim mở rộng, tỉnh Tây Ninh cho thấy, bảo đảm điện có thể trở thành một trong những yếu tố hỗ trợ thu hút đầu tư. Ông Nguyễn Văn Bảnh, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Khai thác và quản lý khu công nghiệp Đặng Huỳnh cho biết: Theo tính toán, nhu cầu điện tại khu công nghiệp tăng khoảng 10% mỗi năm. Việc ngành điện dự báo trước nhu cầu công suất, đầu tư thêm đường dây trung thế và phối hợp hỗ trợ triển khai điện mặt trời mái nhà đã góp phần đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh tại khu công nghiệp.
Cùng với đầu tư và nâng cao năng lực vận hành, các giải pháp từ phía cầu được chú trọng. Ông Bùi Quốc Hoan, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cho biết: Đơn vị đang chủ động làm việc với khách hàng để thúc đẩy các giải pháp như điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, dịch chuyển phụ tải và điều chỉnh phụ tải. Những giải pháp này góp phần bảo đảm cung cấp điện đầy đủ, an toàn, ổn định, nâng cao hiệu quả, độ tin cậy trong vận hành hệ thống điện.
Từ góc nhìn này, việc bảo đảm điện không còn đơn thuần là câu chuyện của riêng ngành điện. Khả năng cung ứng điện đang trở thành một phần của năng lực thu hút đầu tư và mở rộng không gian phát triển. Khi Việt Nam hướng tới các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn, yêu cầu đối với hệ thống năng lượng cũng phải thay đổi tương ứng.
Không chỉ cần thêm nguồn điện
Một hệ thống có thêm nhiều nguồn phát nhưng thiếu lưới truyền tải, khả năng lưu trữ và các nguồn lực đủ linh hoạt để cân bằng vẫn khó đáp ứng tốt nhu cầu tăng trưởng. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất các nguồn điện phục vụ nhu cầu trong nước đến năm 2030 dự kiến khoảng 183.291-236.363MW; công suất lưu trữ khoảng 10.000-16.300MW.
Nguồn điện phải đi cùng lưới điện. Một nhà máy có công suất lớn nhưng không có khả năng truyền tải tương ứng sẽ không thể phát huy đầy đủ hiệu quả đầu tư. Ngược lại, một khu công nghiệp hoặc trung tâm phụ tải lớn nếu chưa được chuẩn bị hạ tầng lưới phù hợp cũng khó đưa dự án vào vận hành đúng tiến độ.
Áp lực này thể hiện rõ tại miền bắc. Nhu cầu điện toàn hệ thống được dự báo tăng 10,5-12,9%/năm trong giai đoạn 2026-2030, trong khi hệ số đàn hồi điện năng/GDP ở mức 1,1-1,2. Công suất cực đại của hệ thống năm 2026 đã đạt 57.838MW trong đợt nắng nóng cuối tháng 6; riêng miền bắc đạt 30.248MW, tăng 14,3% so với kỷ lục của năm 2025. Theo tính toán của Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), phụ tải cực đại có thể tiến tới khoảng 100.000-110.000MW vào năm 2030, gần gấp đôi mức hiện nay.

Ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng Giám đốc NSMO nhấn mạnh: Miền bắc là khu vực chịu áp lực cung ứng điện lớn do nguồn phát nội tại triển khai chậm, trong khi các đường dây truyền tải 500kV liên miền đã gần giới hạn vận hành. Đặc biệt, phụ tải miền bắc thường nhạy cảm với nhiệt độ, trong khi đỉnh tiêu thụ rơi vào khoảng 21-23 giờ, thời điểm điện mặt trời không còn phát điện. Đây cũng là lúc yêu cầu về lưu trữ năng lượng trở nên rõ nét hơn.
Sự phát triển nhanh của năng lượng tái tạo giúp bổ sung nguồn điện nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác điều độ và cân bằng hệ thống. Điện mặt trời tập trung sản lượng vào ban ngày, trong khi nhu cầu có thể tăng mạnh vào buổi tối; điện gió phụ thuộc điều kiện tự nhiên. Khi tỷ trọng các nguồn điện biến đổi tăng lên, hệ thống cần thêm các công cụ có khả năng hấp thụ, tích trữ và cung cấp điện vào thời điểm cần thiết.
Trong bối cảnh đó, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) có thể góp phần dịch chuyển điện năng theo thời gian, giảm áp lực phụ tải giờ cao điểm, hỗ trợ tích hợp năng lượng tái tạo và nâng cao độ linh hoạt của hệ thống.
Theo chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn, BESS có vai trò quan trọng đối với hệ thống điện quốc gia, vừa phục vụ nhu cầu của từng khách hàng vừa hỗ trợ hệ thống khi phụ tải biến động và tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng lên. Việc triển khai BESS sẽ góp phần nâng cao khả năng vận hành an toàn, ổn định của hệ thống, đặc biệt khi kết hợp với điện mặt trời mái nhà tự dùng.
Khơi thông nguồn lực cho năng lượng
Cùng với yêu cầu đủ và ổn định, chi phí năng lượng ngày càng gắn chặt với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với các ngành sử dụng điện lớn hoặc yêu cầu vận hành liên tục như thép, hóa chất, điện tử, trung tâm dữ liệu, khả năng dự báo chi phí năng lượng trong dài hạn có ý nghĩa đối với quyết định đầu tư và phương án sản xuất. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là “có điện”, mà phải đủ điện, ổn định và có chi phí phù hợp.
Để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn, nguồn lực đầu tư cũng không thể chỉ trông chờ vào khu vực nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, khu vực tư nhân đã tham gia mạnh mẽ vào phát triển năng lượng tái tạo. Trong giai đoạn tới, dư địa tham gia còn có thể mở rộng sang điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ, các giải pháp năng lượng tại khu công nghiệp, quản lý nhu cầu và tiết kiệm năng lượng.
Thực tế những năm qua cho thấy, khu vực tư nhân đã tham gia mạnh mẽ vào phát triển năng lượng tái tạo. Trong giai đoạn tới, dư địa tham gia còn có thể mở rộng sang điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ, các giải pháp năng lượng tại khu công nghiệp, quản lý nhu cầu và tiết kiệm năng lượng.
Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) được kỳ vọng tạo thêm kênh kết nối giữa đơn vị phát điện và khách hàng sử dụng điện lớn. Khi được triển khai hiệu quả, doanh nghiệp có thêm lựa chọn trong chiến lược sử dụng năng lượng, trong khi các dự án nguồn điện có thêm cơ hội tiếp cận thị trường.
Theo ông Bùi Quốc Hùng, hoàn thiện cơ chế DPPA cùng với xây dựng khung giá phát điện cho năng lượng tái tạo là những nhiệm vụ Bộ Công thương đang tập trung triển khai nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch và thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào ngành điện.
Tuy nhiên, để dòng vốn tư nhân thật sự đi vào các dự án năng lượng, cần tạo được khả năng dự báo về chính sách, giá điện, quy hoạch, phương án đấu nối và cơ chế mua bán điện. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư và khả năng huy động vốn dài hạn. Sự tham gia của khu vực tư nhân vì thế không chỉ dừng ở việc xây dựng thêm nhà máy điện. Doanh nghiệp còn có thể tham gia bằng công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới và các giải pháp năng lượng phân tán, từ nguồn điện tại chỗ, hệ thống lưu trữ đến điều chỉnh phụ tải và các dịch vụ hỗ trợ vận hành hệ thống.
Theo chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn, bên cạnh vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp nhà nước, cần tháo gỡ vướng mắc thể chế, tạo sự thống nhất trong thực thi tại các địa phương; phát huy các nguồn điện phân tán, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng và ứng dụng công nghệ lưu trữ nhằm giảm hệ số đàn hồi năng lượng.
Tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lượng. Ở chiều ngược lại, một hệ thống năng lượng được chuẩn bị tốt cũng có thể mở rộng không gian tăng trưởng. Khi nguồn điện đủ, ổn định, đáp ứng được các phụ tải mới và có chi phí phù hợp, năng lượng không chỉ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hiện tại, mà còn tạo nền tảng để những ngành công nghiệp mới, mô hình sản xuất mới và các động lực tăng trưởng mới hình thành.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/bao-dam-an-ninh-nang-luong-post996070.html

