Biển đảo trong thơ ca dân gian
VHXQ - Biển đảo không chỉ nuôi sống cư dân xứ Quảng mà còn in đậm trong thơ ca dân gian. Qua tục ngữ, ca dao, hò vè, người dân gửi gắm tri thức biển cả, kinh nghiệm mưu sinh, tình yêu quê hương và những rung cảm sâu nặng.

Một góc Bãi Hương (Cù Lao Chàm). Ảnh: T.V.A
Môi trường địa - sinh thái biển đảo không chỉ tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất của các lớp cứ dân xứ Quảng từ thời tiền sơ sử cho tới nay mà còn để lại dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực văn hóa tinh thần của người dân nơi đây, trong đó có bộ phận thơ ca dân gian. Âm vang biển đảo đã lưu dấu sinh động, đầy hình tượng trong tục ngữ, ca dao, hò vè ở xứ Quảng.
Các loại hình thơ ca dân gian này trước hết giúp chúng ta nhận biết được tâm thế của người dân xứ Quảng đối với môi trường biển đảo. Biển đảo ở đây từ chỗ “Đến đây lạ bến đâu nhờ; Lạy trời bớt gió, sóng bờ đừng xao” dần dần trở thành là môi trường sinh tồn, là tiềm năng, lợi thế để tổ chức đời sống, xây dựng và phát triển kinh tế.
Biển đảo trong thơ ca dân gian xứ Quảng hiện lên giàu đẹp không thua kém bất cứ không gian sống nào khác: “Quê ta biển bạc non vàng/Biển bạc Đông Hải, non vàng Bồng Miêu”; “Ra Lao bước tới Mồ, Dài/Gần Khô có Lá, gần Tai có Nồm/Biển bạc có nhiều cá tôm/Rừng vàng tươi thắm hoa thơm bốn mùa”.
Cộng đồng cư dân xứ Quảng có cái nhìn chỉnh thể về sự kết nối giữa núi rừng và biển đảo, giữa trên nguồn và dưới biển: “Sông Thu khúc lở, khúc bồi/Khúc mô lở lở hết khúc mô bồi bồi luôn/Trời sinh ra có biển có nguồn/Có ta, có bạn bạn buồn nỗi chi”.
Các loại hình thơ ca dân gian tại chỗ cũng cho thấy, trải qua quá trình tương tác, thích nghi với môi trường biển đảo, người dân ở đây đã có những hiểu biết sâu sắc về tính chất, đặc điểm của môi trường này và đã tích lũy nên một kho tri thức đồ sộ về biển đảo.
Đó là những câu ca nói về thời tiết biển: “Sấm rền Cửa Lở mưa trở liền tay”; “Mống đóng Cu Đê lo về dọn gác/Mống đóng Cửa Đại ở lại làm ăn”; “Chiều chiều mây phủ Sơn Chà/Sấm rền Cửa Đại trời đà chuyển mưa”.

Ảnh: Nguyễn Sanh Quốc Huy
Đó là những câu ca nói về sự hiểm nguy, bất trắc của biển cả: “Lấy chồng nghề ruộng em theo/Lấy chồng nghề biển hồn treo cột buồm”; “Lên non mới biết non cao/Có ra ngoài biển mới biết sóng chao gió nhồi”.
Hoặc những câu ca đúc kết kinh nghiệm hành nghề trên biển: “Sông sâu mà biển cũng sâu/Muốn ăn cá lớn giăng câu cho dài”; “Dài cần dài nhợ ra khơi/Ngắn cần ngắn nhợ nhắp chơi quanh bờ”.
Biển đảo cũng đã trở thành hình tượng trong nhiều câu ca dân gian xứ Quảng để diễn tả tình yêu đôi lứa với nhiều cung bậc; trạng thái khác nhau, tạo thành một nét riêng mới của thơ ca dân gian nơi đây: “Đêm nay anh gối tay nàng/Đến mai đến mốt ra biển anh gối đàn dây neo/Bạn hẹn với ta lên động xuống đèo/Con chim kêu trên gành đá con vượn trèo Hải Vân/Bạn hẹn với ta trên ngõ sông Ngân/Cầu cao vời vợi có cặp sóng thần bủa bao”; “Bao giờ bãi nọ xa gành/Cù lao xa biển anh mới đành xa em”.
Biển đảo cũng đã cung cấp dữ liệu sống để tác giả dân gian sáng tác những bài ca dao tình yêu với những hình tượng mới mẻ so với truyền thống: “Gió Nam thổi xuống lò vôi/Ai đồn với bạn ta có đôi bạn buồn/Dời chân bước xuống ghe buôn/Sóng bao nhiêu gợn dạ chàng buồn bấy nhiêu/Cạnh buồm gió thổi xiêu xiêu/Nước mắt ra chàng chặm bốn múi dây lưng điều không khô/Sự tình thảm biết chừng mô/Con cá lui về biển Bắc bỏ chiếc nơm khô một mình”...
Câu ca có hai hình tượng mới đó là những chiếc ghe buôn đường biển và những cơn sóng biển dạt dào, vô tận dùng để chỉ sự nhớ thương trong tình yêu đôi lứa.
Qua vài bài ca dân gian đã nêu ở trên, chúng ta ít nhiều cũng có thể thấy rằng, âm vang biển đảo đã lưu dấu đậm nét, sinh động trong đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của người dân xứ Quảng, qua đó góp phần minh chứng cho truyền thống tương tác, thích nghi lâu đời của các thế hệ cư dân xứ Quảng đối với môi trường biển đảo.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/bien-dao-trong-tho-ca-dan-gian-3338899.html











