'Bộ ba Duy tân'

Ba nhà yêu nước xứ Quảng: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp - những bậc khoa cử nổi tiếng đã từ bỏ con đường quan trường để theo đuổi một khát vọng lớn lao hơn: Canh tân đổi mới, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh...

Từ trái sang: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp.

Từ trái sang: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp.

Phan Châu Trinh (1872 – 1926) tên chữ là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, ở làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng.

Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947), hiệu Minh Viên, tự Giới Sanh, sinh tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng.

Trần Quý Cáp (1870 - 1908) lúc nhỏ tên là Trần Nghị, tự là Dã Hàng, Thích Phu, hiệu là Thai Xuyên. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Bất Nhị, xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Điện Bàn Tây, thành phố Đà Nẵng.

Không chỉ là những trí thức yêu nước tiêu biểu, họ còn gắn bó với nhau bằng một tình bạn sâu sắc, phát triển thành tình đồng chí bền chặt trên con đường đấu tranh vì sự nghiệp canh tân đất nước.

Thiếu thời, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp kết bạn với nhau từ rất sớm, ba ông trở thành “đồng song”, cùng học với nhau tại trường Cẩm Y với cụ Huấn đạo Lê Công Thúy (1893), trường Giáo (Thăng Bình) rồi trường Đốc (Thanh Chiêm). Sau này, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đều là những “học trò cưng” của Đốc học Mã Sơn Trần Đình Phong. Phan - Huỳnh còn là “đồng khoa” trong khoa thi Hương năm Canh Tý (1900). Huỳnh đỗ Giải nguyên, Phan đỗ thứ ba. Còn Trần Quý Cáp đỗ Nhất giáp Tiến sĩ năm 1904, trên Đặng Văn Thụy và Huỳnh Thúc Kháng. Huỳnh Thúc Kháng là “anh em cọc chèo” với người anh của Phan Châu Trinh, rể nhà họ Nguyễn, một cự tộc ở làng Đại Đồng.

Khi chứng kiến nền giáo dục Nho học không còn đáp ứng được yêu cầu của thời đại và những trào lưu tư tưởng mới du nhập vào, cả ba ông dần nhận ra rằng muốn cứu nước cần phải đổi mới tư duy và cải cách xã hội. Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng tìm đọc tân thư để “giác ngộ”.

Từ những nhân sĩ Nho học, họ trở thành những gương mặt tiêu biểu của Phong trào Duy tân, một phong trào cải cách nhằm nâng cao dân trí, khơi dậy tinh thần tự cường và thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ba người đã góp phần tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ của Phong trào Duy tân đầu thế kỷ 20. Cũng từ đây nhân dân xứ Quảng gọi 3 ông là “Bộ ba Duy tân Quảng Nam: Phan - Trần - Huỳnh”.

Nhờ những hoạt động không mệt mỏi của 3 ông, Phong trào Duy Tân đã thu hút đông đảo sự hưởng ứng của các nhân sĩ yêu nước và nhân dân: cắt tóc ngắn, dùng hàng nội, mặc đồ âu, học chữ quốc ngữ, bài trừ mê tín dị đoan, lập các thương hội, trường học tiến bộ...

Phong trào đã trở thành hành động phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng lan ra khắp Trung Kỳ, ảnh hưởng sâu rộng đến cả nước, dẫn tới cuộc Trung Kỳ dân biến năm 1908. Sau sự kiện này, Phong trào Duy tân bị chính quyền thực dân đàn áp mạnh mẽ. Trần Quý Cáp bị xử chém, trở thành một trong những liệt sĩ tiêu biểu của phong trào. Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và một số người liên quan như Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Văn Bách, Lê Văn Ôn... bị bắt và đày Côn Đảo.

Đã hơn 1 thế kỷ đi qua, phong trào Duy tân cùng những người khởi xướng Phan Châu Trinh - Huỳnh Thúc Kháng - Trần Quý Cáp đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá tư tưởng tiến bộ và đặt nền móng cho sự phát triển của các phong trào yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ 20.

PHAN NGỌC MỸ

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/bo-ba-duy-tan-3329141.html