Bộ trưởng Công Thương nêu 4 nhóm vấn đề khi sửa Luật Điện lực

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho rằng có 4 nhóm vấn đề lớn khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực nhằm tháo gỡ vướng mắc trong triển khai, tạo cơ chế thuận lợi để thu hút đầu tư vào các dự án điện.

Quốc hội Khóa XVI

Chiều 20/10, các đại biểu thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Điện lực.

Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng phát biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: QH

Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng phát biểu tại thảo luận tổ. Ảnh: QH

Tại phiên thảo luận tổ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết thực tiễn triển khai Luật Điện lực 2024 đặt ra yêu cầu tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số quy định để đáp ứng yêu cầu phát triển.

Việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 70 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, luật hóa các quy định tại Nghị quyết số 253 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, đồng thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, bảo đảm cung ứng đủ điện cho nền kinh tế.

Bộ trưởng cho biết việc sửa đổi tập trung vào 4 nhóm vấn đề lớn.

Tháo gỡ vướng mắc trong cập nhật, điều chỉnh quy hoạch điện

Nhóm vấn đề thứ nhất là cập nhật, điều chỉnh quy hoạch điện lực. Dù Quy hoạch điện VIII đã được phê duyệt và điều chỉnh, quá trình triển khai vẫn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc bảo đảm tính đồng bộ giữa quy hoạch điện lực với các quy hoạch chuyên ngành và quy hoạch địa phương.

Những vướng mắc này càng rõ khi có sự điều chỉnh địa giới hành chính và thay đổi về phân cấp, phân quyền. Do đó, cần bảo đảm tính đồng bộ giữa công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch, tạo điều kiện để các dự án điện được triển khai đúng tiến độ.

Đơn giản hóa thủ tục, đẩy nhanh triển khai dự án điện

Nhóm vấn đề thứ hai là tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án điện lực đã được đưa vào quy hoạch.

Theo Bộ trưởng, trình tự, thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư và chấp thuận nhà đầu tư hiện còn những khâu trùng lặp, mất nhiều thời gian, gây khó khăn cho việc triển khai dự án tại địa phương.

Để khắc phục tình trạng này, dự thảo luật đề xuất phân loại các dự án đã có trong quy hoạch và đủ điều kiện để được miễn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời sử dụng văn bản chấp thuận nhà đầu tư làm cơ sở pháp lý triển khai dự án.

Cách tiếp cận này nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, hạn chế các khâu trùng lặp và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án điện.

Lấy giá điện trúng thầu làm cơ sở ký hợp đồng mua bán điện

Nhóm vấn đề thứ ba liên quan đến đàm phán hợp đồng mua bán điện. Theo Bộ trưởng, thực tế triển khai các dự án thời gian qua cho thấy quá trình đàm phán giữa bên mua và bên bán điện thường kéo dài sau khi nhà đầu tư đã được lựa chọn.

Theo quy định hiện hành, giá điện trúng thầu được sử dụng làm mức giá tối đa, các bên vẫn phải tiếp tục đàm phán để xác định giá điện trong hợp đồng. Điều này gây khó khăn trong việc tìm được mức giá phù hợp với lợi ích của cả bên mua và bên bán.

Quá trình đàm phán có thể kéo dài vài năm. Thậm chí, có dự án đã vận hành thương mại nhưng vẫn chưa ký được hợp đồng mua bán điện.

Vì vậy, dự thảo luật đề xuất sử dụng giá điện trúng thầu làm cơ sở ký kết hợp đồng mua bán điện. Theo Bộ trưởng, cơ chế này sẽ góp phần giảm thời gian đàm phán, hạn chế rủi ro phát sinh và tạo thuận lợi hơn cho quá trình triển khai dự án.

Các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ. Ảnh: QH

Các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ. Ảnh: QH

Bổ sung cơ chế giá công suất, thu hút đầu tư điện khí LNG

Nhóm vấn đề thứ tư là xây dựng cơ chế khuyến khích phát triển các nguồn điện, trong đó có điện khí, đồng thời bảo đảm lợi ích tổng thể của quốc gia.

Đối với điện sử dụng khí tự nhiên trong nước, chính sách cần ưu tiên huy động tối đa theo khả năng cấp khí. Nguồn điện này không chỉ đóng góp vào bảo đảm cung ứng điện mà còn tạo lợi ích từ hoạt động thăm dò, khai thác và phát triển công nghiệp dầu khí, đóng góp ngân sách nhà nước, tạo việc làm và thúc đẩy các ngành công nghiệp liên quan.

Tuy nhiên, nguồn khí trong nước không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu phát triển điện khí, do đó Việt Nam phải huy động thêm nguồn LNG nhập khẩu.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025-2035 dự kiến có khoảng 21 dự án điện khí LNG nhập khẩu với tổng công suất lên tới 36.000 MW; riêng giai đoạn 2025-2030, tổng công suất dự kiến hơn 23.000 MW.

Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho rằng để thu hút đầu tư vào các dự án này, cần có cơ chế đủ hấp dẫn. Theo quy định hiện hành, mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn (Qc) bằng 65% vẫn chưa bảo đảm tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Nguyên nhân là các dự án điện khí LNG có vốn đầu tư rất lớn, trong khi sản lượng điện thực tế được huy động phụ thuộc vào thị trường, cơ chế chào giá và lập lịch huy động. Vì vậy, dù có quy định về sản lượng điện hợp đồng tối thiểu, nhà đầu tư vẫn phải đối mặt với rủi ro về khả năng thu hồi vốn.

Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã tham mưu Chính phủ đề xuất bổ sung cơ chế giá công suất bên cạnh giá điện năng. Theo đề xuất, giá công suất là khoản thanh toán cho khả năng sẵn sàng phát điện của các nhà máy khi hệ thống có nhu cầu.

Cơ chế này nhằm bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư, đồng thời phải được thiết kế hợp lý để không gây tác động bất lợi đến mặt bằng giá điện chung của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, dự thảo luật cũng đề cập đến phát triển điện gió ngoài khơi, thị trường tín chỉ và thị trường điện tái tạo, phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng và cam kết của Việt Nam đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Bộ trưởng Bộ Công Thương cho biết việc sửa đổi Luật Điện lực cần được đặt trong tổng thể quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm đồng bộ với các quy định của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đất đai và Luật Đấu thầu, qua đó tháo gỡ khó khăn trong triển khai dự án và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy hoạch điện lực.

Bùi Trang

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/bo-truong-cong-thuong-neu-4-nhom-van-de-khi-sua-luat-dien-luc-post364627.html