Chiếc bánh 5.000 đồng và ngọn lửa trăm năm của một làng nghề
Những ngày giáp Tết, làng Thịnh Mỹ, xã Xuân Hòa (Thanh Hóa) đỏ lửa suốt đêm. Những chiếc bánh gai vỏ đen – ruột vàng ra đời, mang theo ký ức trăm năm của một làng nghề từng làm bánh tiến vua.
Khi bình minh còn chưa kịp ló rạng, ở làng Thịnh Mỹ (xã Xuân Hòa, Thanh Hóa), mùi bánh gai đã kịp lan ra khắp ngõ nhỏ. Thứ hương ngọt dịu, thơm nồng của lá gai, mật mía, đậu xanh hòa trong khói bếp khiến người đi xa chỉ cần ngửi thấy cũng biết Tết đang về rất gần.
Trong căn nhà nhỏ của gia đình bà Lê Thị Kết, ánh đèn bật từ lúc 3h sáng. Bốn con người quây quần bên mâm nguyên liệu, tay thoăn thoắt, miệng chuyện trò rì rầm. Gần 40 năm qua, chiếc bánh gai đã nuôi sống gia đình bà, từ đời cụ kỵ, ông bà, đến lớp con cháu hôm nay.

Bà Lê Thị Kết và con gái đang tất bật gói bánh.
"Làm bánh gai không thể vội", bà Kết nói, vừa miết bột vừa canh lửa. Lá gai phải luộc đúng độ, ép thật khô, nghiền mịn; gạo nếp xay nhuyễn trộn cùng mật mía tạo nên thứ vỏ bánh đen óng, dẻo quánh. Nhân bánh là đậu xanh, dừa nạo, vừng rang, thêm chút dầu chuối cho dậy hương. Mỗi công đoạn đều cần sự nhẫn nại – thứ mà người làm nghề gọi là "gia vị vô hình".

Nhân bánh làm từ bột nếp, đậu xanh, dừa non và các gia vị khác.

Vỏ bánh gai, bên trong có nhân, thêm một bước gói bằng lá chuối là thành chiếc bánh hoàn thiện.

Bánh được đưa vào nồi hấp trên bếp lửa khoảng 2 tiếng thì thành chiếc bánh thành phẩm.
Khi nguyên liệu đã sẵn sàng, cả nhà chuyển sang gói bánh. Từng nắm bột được dàn mỏng, đặt nhân vào giữa, lăn vừng rồi gói bằng lá chuối khô. Bánh sau đó được hấp suốt hai giờ trên bếp lửa lớn. Đến khi nắp nồi mở ra, hơi nước bốc lên mù mịt, mùi bánh chín lan khắp gian bếp – cũng là lúc người thợ chỉ cần "ngửi" để biết bánh đã đạt hay chưa.

Mẻ bánh đã chín được đưa ra khỏi bếp.

Chiếc bánh gai nóng hổi có mùi thơm, ngọt dịu.

Những cột bánh sẵn sàng đến tay khách hàng.
Một ngày làm việc kéo dài đến 10h đêm. Ông Trần Đức Nương, chồng bà Kết, bảo nghề bánh không làm giàu, nhưng đủ để nuôi con khôn lớn. "Ngày thường làm vài trăm đến nghìn chiếc, doanh thu 4-5 triệu đồng, lấy công làm lãi là chính. Nguyên liệu ngày càng đắt, mưa bão nhiều đến lá chuối, lá gai cũng tăng giá", ông nói.
Tết là mùa cao điểm. Mỗi ngày, gia đình ông làm 4.000-5.000 chiếc bánh, giá khoảng 5.000 đồng một chiếc, xuất đi nhiều tỉnh thành. Con gái ông, chị Trần Thị Nga, tranh thủ về phụ bố mẹ. "Vất vả mà thu nhập không cao, nên thanh niên trong làng ít ai theo nghề", chị nói, tay vẫn thoăn thoắt buộc lạt hồng.

Những người thợ cho biết, giá nguyên liệu tăng cao cũng đang gây khó khăn cho các cơ sở làm bánh gai.
Không riêng gia đình ông Nương – bà Kết, cả làng Thịnh Mỹ những ngày này đều đỏ lửa. Ở cơ sở Huấn Hường, ông Hoàng Văn Huấn trăn trở: "Tăng giá thì mất khách, không tăng thì lỗ công. Nhưng bỏ nghề thì tiếc".
Bánh gai Tứ Trụ – tên gọi gắn với vùng đất Thịnh Mỹ xưa – có lịch sử từ thời Hậu Lê, thế kỷ XV. Tương truyền, sau khởi nghĩa Lam Sơn, người dân nơi đây làm bánh dâng lên vua Lê trong lễ mừng công. Từ đó, bánh gai trở thành sản vật "tiến vua", xuất hiện trong các dịp lễ trọng, giỗ Tết. Một chiếc bánh nhỏ, nhưng gói trọn nghệ thuật ẩm thực dân gian và lịch sử mấy trăm năm.
Đại diện UBND xã Xuân Hòa cho biết: toàn xã hiện có hơn 40 hộ làm bánh thường xuyên, dịp Tết tăng lên khoảng 100 hộ. Làng nghề đã được công nhận là điểm du lịch cấp tỉnh, nhiều sản phẩm đạt chuẩn OCOP.
Trong làn khói bếp mờ sương, những người thợ già vẫn lặng lẽ giữ nghề. Với họ, mỗi chiếc bánh không chỉ để bán, mà còn là níu giữ ký ức và văn hóa, giữ lại hương vị quê nhà giữa dòng chảy thời gian.












