Chủ tịch Quốc hội: Cải cách mà người dân vẫn phải chạy theo thì chưa phải là cải cách
Chủ tịch Quốc hội yêu cầu thay đổi thước đo đánh giá cải cách, không nên chỉ đếm số thủ tục được cắt giảm hay số nghị quyết được ban hành, mà phải đo bằng thời gian, chi phí người dân, doanh nghiệp thực tế tiết kiệm được và mức độ hài lòng của họ.
Sáng 23/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI, thảo luận tại Tổ 2, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho biết: "Đây là nghị quyết chưa có tiền lệ, Quốc hội mở cho Chính phủ một "làn tốc hành", áp dụng cơ chế đặc biệt để tháo gỡ những vướng mắc mà nếu xử lý theo quy trình thông thường sẽ mất rất nhiều thời gian".
Theo Chủ tịch Quốc hội, hơn một năm qua, thực hiện cơ chế này đã có 26 nghị quyết được thông qua; 556/786 phản ánh, kiến nghị đã được xử lý. Riêng 5 nghị quyết về cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh đã giúp tiết kiệm khoảng 23.000 tỷ đồng mỗi năm.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại tổ.
Nhấn mạnh đây là những kết quả, thành tích đáng ghi nhận, tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội cũng đặc biệt lưu ý "ba nút thắt" phải giải quyết trước khi nghị quyết hết hiệu lực vào ngày 1/1/2027. Thứ nhất, gỡ nhanh ở "đầu nguồn", nhưng vẫn đang tắc ở "hạ nguồn"; thứ hai, cải cách phải thực chất, không chỉ nhanh mà còn phải khả thi và thứ 3 là cần hết sức thận trọng khi luật hóa cơ chế ủy quyền lập pháp.
Chủ tịch Quốc hội cho biết, 26 nghị quyết đã ban hành yêu cầu sửa đổi 317 văn bản, nhưng đến nay mới xử lý được 112 văn bản. Đối với các văn bản thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đã xử lý 36/79 văn bản. Đối với các văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vẫn còn 109/152 văn bản chưa được xử lý.


Các đại biểu Đoàn TP Hồ Chí Minh tại phiên thảo luận tổ.
Đáng chú ý, tiến độ chậm lại nằm ngay ở các bộ, ngành - những cơ quan đề xuất cơ chế tháo gỡ. Bên cạnh đó, số liệu báo cáo cũng cần được rà soát: Báo cáo nêu 317 văn bản, nhưng phụ lục lại thể hiện 424 văn bản; 8 dự án luật đang trình cũng được tính là đã xử lý là không đúng. "Số liệu không chính xác thì không thể quản trị tiến độ, càng không quy được trách nhiệm. Do đó, phải rà soát, điều chỉnh", Chủ tịch Quốc hội yêu cầu.
Đồng tình với việc kéo dài hiệu lực các văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt đến ngày 31/12/2027 để không tạo khoảng trống pháp lý, tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội cũng nêu rõ, nghị quyết của Kỳ họp thứ 2 phải quy định thật rõ ba vấn đề: Một là, chỉ gia hạn một lần, không có lần thứ hai. Hai là, phải có phụ lục danh mục cụ thể từng nghị quyết, văn bản được kéo dài hiệu lực. Ba là, Chính phủ phải định kỳ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiến độ thực hiện. Bộ, ngành nào chậm thì người đứng đầu phải giải trình. "Gia hạn là để hoàn thành chứ không phải để tiếp tục trì hoãn", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Chủ tịch Quốc hội: "Cách bền vững nhất không phải là thường xuyên sử dụng cơ chế đặc biệt, mà là bảo đảm mỗi đạo luật ngay từ đầu phải rõ ràng, khả thi".
Quan tâm đến việc các nghị quyết sau khi ban hành có thực sự giải quyết được vấn đề của thực tiễn hay không, Chủ tịch Quốc hội nêu ví dụ, Nghị quyết 66.13 về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm sau khi ban hành đã phải tạm ngưng thực hiện do chi phí tuân thủ và các quy định chuyển tiếp chưa khả thi. Nghị quyết 66.16 có hiệu lực chưa đầy ba tháng thì Nghị quyết 66.18 lại được ban hành để sửa đổi chính các thủ tục đó.
Việc chính sách liên tục thay đổi khiến quá trình triển khai bị đảo lộn, tốn thời gian, công sức. Doanh nghiệp và cán bộ tại bộ phận một cửa chưa kịp làm quen với quy trình cũ lại phải học quy trình mới. Có thủ tục đã được bãi bỏ trong văn bản nhưng chưa cập nhật lên cơ sở dữ liệu quốc gia, chưa tái cấu trúc quy trình điện tử, nên người dân vẫn chưa được hưởng lợi.
"Cải cách mà người dân vẫn phải chạy theo thì chưa phải là cải cách. Cải cách phải làm sao để thủ tục đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh và yêu cầu thay đổi thước đo đánh giá cải cách. Không nên chỉ đếm số thủ tục được cắt giảm hay số nghị quyết được ban hành, mà phải đo bằng thời gian, chi phí người dân, doanh nghiệp thực tế tiết kiệm được và mức độ hài lòng của họ.
Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý một số nghị quyết thời gian thực hiện còn ngắn, chưa đủ thời gian kiểm nghiệm đầy đủ hiệu quả thì chưa vội vàng luật hóa.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị các đại biểu nghiên cứu kỹ kết luận để có cách tiếp cận phù hợp. Nếu thực sự cần thiết thì cần thiết kế cơ chế: Chính phủ đề xuất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định; chỉ áp dụng trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp kịp thời; có thời hạn cụ thể, loại trừ những lĩnh vực liên quan đến quyền con người, quyền công dân, tội phạm, thuế; đồng thời phải trình Quốc hội tại kỳ họp gần nhất để xem xét, phê chuẩn hoặc bãi bỏ.
Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ, nếu không kiểm soát chất lượng ngay từ đầu thì hôm nay tháo gỡ, ngày mai lại tiếp tục tháo gỡ. "Cách bền vững nhất không phải là thường xuyên sử dụng cơ chế đặc biệt, mà là bảo đảm mỗi đạo luật ngay từ đầu phải rõ ràng, khả thi. Đó là trách nhiệm của Chính phủ, nhưng trước hết cũng là trách nhiệm của chính Quốc hội. Chính phủ trình nội dung gì thì Quốc hội phải xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng, dựa trên thực tiễn và đánh giá tác động đầy đủ trước khi quyết định", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.
