Chuỗi lâm nghiệp và khoảng trống giá trị gia tăng
Thị trường đồ gỗ và lâm sản toàn cầu với quy mô hàng trăm tỷ USD đang mở ra cơ hội bứt phá lớn cho ngành chế biến, xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiếu hụt các chứng nhận quản lý rừng bền vững đang khiến các HTX và doanh nghiệp nội địa chưa được hưởng lợi nhiều từ chính ngành nghề mình đang đầu tư.
Ông Lê Duy Trinh, Giám đốc Công ty TNHH MTV Gỗ Nguyên Phong (Quảng Trị) cho biết, để phục vụ thị trường xuất khẩu, khu vực chế biến của đơn vị này cần khoảng 12.000 tấn nguyên liệu gỗ mỗi năm. Vậy nhưng, vùng rừng tại chỗ đạt chuẩn hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu sản xuất.
Nghịch lý cung-cầu
Trong khi đó, ở góc độ sản xuất, ông Phan Danh Tuyển , Giám đốc HTX Kinh doanh nông lâm nghiệp Hà Xá (Quảng Trị) chia sẻ, các doanh nghiệp đầu chuỗi luôn cam kết bao tiêu toàn bộ rừng gỗ lớn có chứng chỉ với mức giá cao hơn gỗ thường, giúp lợi nhuận của thành viên HTX tăng từ 40 – 50% so với phương thức trồng gỗ nhỏ thông thường. Điều này chứng minh nhu cầu thu mua gỗ lớn đạt chuẩn từ các doanh nghiệp liên kết là vô cùng lớn.
Tuy nhiên, vị giám đốc HTX này cũng thừa nhận, dù đầu ra được bao tiêu lớn nhưng diện tích rừng trồng đạt chuẩn của các hộ thành viên vẫn chưa đủ quy mô để đáp ứng đồng bộ theo các đơn hàng lớn của nhà máy chế biến sâu.
“Tốc độ chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ (khai thác non bán dăm) sang rừng gỗ lớn có chứng chỉ (chu kỳ từ 10 – 12 năm) của người dân địa phương còn rất chậm do vướng áp lực tài chính ngắn hạn”, ông Tuyền thông tin.
Sự lệch pha giữa cung và cầu về nguồn gỗ đạt chứng nhận bền vững đã tạo ra khoảng trống lớn trong chuỗi giá trị lâm nghiệp. Do không đủ sản lượng gỗ đạt chuẩn để ký kết các hợp đồng cung ứng trực tiếp quy mô lớn, nhiều HTX chưa thể tối ưu hóa nguồn lợi kinh tế từ ngành nghề này, dù đối với nhiều địa phương miền núi, trồng rừng là nguồn thu nhập chính của người dân.
Theo thống kê của ngành lâm nghiệp, tính đến giữa tháng 5/2026, diện tích rừng đạt chứng chỉ PEFC/VFCS trên toàn quốc mới đạt 263,2 nghìn ha; diện tích rừng đạt chứng chỉ FSC đạt 616,9 nghìn ha.

Nhiều HTX đầu tư chuỗi lâm nghiệp bền vững nhưng vẫn gặp không ít khó khăn.
Như vậy, tổng cộng Việt Nam mới có hơn 880 nghìn ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, tương đương khoảng 18% trên tổng số gần 4,5 triệu ha rừng trồng sản xuất của cả nước.
Khoảng trống 82% diện tích chưa đạt chuẩn còn lại khiến các đơn vị chế biến, xuất khẩu lớn của Việt Nam liên tục rơi vào tình trạng thiếu hụt nguyên liệu gỗ sạch nội địa, phải chấp nhận nhập khẩu gỗ từ nước ngoài với chi phí cao.
Số liệu thống kê cho thấy, chỉ riêng năm 2025, Việt Nam đã chi tới 3,2 tỷ USD để nhập khẩu lượng lớn gỗ từ Mỹ, châu Âu, Chile hay New Zealand nhằm phục vụ sản xuất vật liệu gỗ kỹ thuật.
Dù nguồn nguyên liệu ngoại nhập này có chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhưng việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung bên ngoài đang khiến ngành lâm nghiệp Việt Nam rơi vào thế bị động, làm giảm tính tự chủ và xói mòn giá trị gia tăng trong nước.
Đáng chú ý, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay còn nằm ở sự thiếu kết nối đồng bộ giữa 3 ngành: lâm nghiệp, chế biến gỗ và xây dựng. Trong nhiều năm qua, ngành gỗ phần lớn mới dừng ở cung ứng nguyên liệu hoặc xuất khẩu đồ gỗ thô, chưa thực sự tối ưu hóa giá trị từ kiến trúc xanh.
Trong khi Việt Nam sở hữu hơn 300 làng nghề gỗ truyền thống và nhu cầu xây dựng bằng nguyên vật liệu bền vững (gỗ kỹ thuật kết cấu) là rất lớn, thì lĩnh vực xây dựng trong nước vẫn chưa xem gỗ đạt chuẩn là vật liệu kết cấu chính thức, từ đó chưa nâng được giá trị gia tăng cho gỗ cũng như ngành lâm nghiệp.
Chuyển dịch xanh đi đôi với tháo gỡ cơ chế
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng trong nước dịch chuyển chậm thì áp lực thời gian từ thị trường quốc tế đang ngày càng áp sát.
Điển hình là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và Đạo luật Lacey của Mỹ. Các thị trường nhập khẩu lớn này đang chuyển trạng thái từ "khuyến khích" sang buộc 100% sản phẩm gỗ khi nhập khẩu phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp, không gây mất rừng và có khả năng truy xuất định vị đến từng lô đất. Những sản phẩm lỗi nhịp với tiêu chuẩn xanh này sẽ đối mặt với nguy cơ bị cấm lưu thông hoàn toàn.
Nhìn theo hướng tích cực, 82% diện tích rừng chưa có chứng nhận chính là "mỏ vàng" dư địa để ngành lâm nghiệp, các địa phương và khối kinh tế tập thể, HTX bứt phá chất lượng tăng trưởng.
Khi chuyển từ bán dăm gỗ sang bán gỗ lớn có chứng nhận, giá trị thu nhập trên cùng một héc ta rừng của người dân có thể tăng gấp 2 – 3 lần. Bên cạnh đó, rừng có chứng chỉ bền vững là nền tảng cốt lõi để thẩm định, cấp tín chỉ carbon rừng, từ đó tạo nguồn thu lớn cho các chủ rừng trong bối cảnh thị trường carbon đang hình thành mạnh mẽ tại Việt Nam.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, các chuyên gia cho rằng chìa khóa nằm ở mô hình HTX lâm nghiệp kiểu mới. Chỉ có liên kết các hộ dân nhỏ lẻ lại thành HTX mới đủ quy mô diện tích tập trung (từ vài trăm đến hàng ngàn ha), đủ tư cách pháp nhân để làm chứng chỉ tập thể và đủ vị thế ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn với các tập đoàn lớn.
Thực tế chứng minh, nơi nào có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và HTX, nơi đó bài toán chuẩn hóa sẽ tìm được lời giải tốc độ. Điển hình tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Hữu Dương - Giám đốc HTX Nông nghiệp Hiệp Thuận cho biết, nhờ liên kết với doanh nghiệp, HTX đã tổ chức được 260 hộ dân sản xuất 1.500 ha rừng bền vững. Các thành viên đã chủ động quản lý rừng theo bản đồ, truy xuất nguồn gốc và bảo tồn đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, hành trình này vẫn cần những quyết sách tháo gỡ rào cản từ thực tế. Theo đại diện HTX Lâm nghiệp bền vững Thượng Nhật (Huế), bà Hồ Thị Điệp, đầu tư cho phát triển lâm nghiệp bền vững cần nguồn tài chính lớn để phát triển vùng nguyên liệu, duy trì chứng chỉ và xây dựng nhà máy chế biến sâu. Thế nhưng, hiện nay, nhiều HTX đang không thể tự thuê đất để đầu tư xây dựng nhà xưởng, nhà máy chế biến theo chuỗi tại các khu công nghiệp.
Do đó, để mở rộng diện tích rừng bền vững đạt chuẩn, các HTX đang rất cần một cơ chế cởi trói về mặt hạ tầng, đất đai và tín dụng, từ đó gia tăng giá trị cho ngành lâm nghiệp.
Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/chuoi-lam-nghiep-va-khoang-trong-gia-tri-gia-tang.html











