Cơ hội xanh có, nhưng chọn đi như thế nào?
Cơ hội chuyển xanh ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng đang dần hình thành nền tảng thúc đẩy. Thế nhưng, việc chuyển xanh chưa chắc đã mang lại lợi ích kinh tế cao hơn nếu nhìn vào bài toán đầu tư để tuân thủ.
Sống “xanh”, tiêu dùng có trách nhiệm là xu hướng tất yếu khi thị trường nhập khẩu ngày càng chú trọng các yếu tố bền vững. Đây cũng là mục tiêu theo đuổi xuyên suốt của ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng.

Việt Nam đặt mục tiêu hình thành thị trường carbon với kế hoạch vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon vào cuối năm nay. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để trao đổi, mua bán tín chỉ carbon giữa bên phát thải nhiều cần bù trừ với bên phát thải ít.
Chẳng hạn, một doanh nghiệp, dự án hoặc hoạt động sản xuất giảm được 1 tấn CO₂ (hoặc khí nhà kính tương đương) so với mức thông thường, thì phần giảm này được quy đổi thành tín chỉ carbon. Trong khi đó, những đơn vị phát thải vượt mức cho phép hoặc muốn thực hiện cam kết giảm phát thải sẽ mua tín chỉ này để bù đắp.
Vì vậy, giảm phát thải từ hoạt động sản xuất không chỉ là trách nhiệm với môi trường, mà trong tương lai gần còn trở thành một loại “hàng hóa” được giao dịch trên sàn tín chỉ carbon. Đây là động lực kinh tế để doanh nghiệp và người sản xuất chuyển hướng xanh, đồng thời, là cam kết của Việt Nam với thế giới về phát triển bền vững.

Từ những cơ hội trên, ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và lúa gạo ở ĐBSCL nói riêng trong hai năm qua đã có sự chuẩn bị mạnh mẽ để hiện thực hóa mục tiêu “chuyển xanh” thông qua đề án 1 triệu héc ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh.
Theo đó, Viện Môi trường Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành quy trình đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV – Measurement, Reporting and Verification) trong canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Đây là bộ công cụ quan trọng để thực hiện cam kết giảm phát thải của Việt Nam trong canh tác lúa và là cơ sở tham gia thị trường tín chỉ carbon khi sàn giao dịch được thí điểm.
Dĩ nhiên, để kết quả phát thải giảm so với phương thức sản xuất truyền thống và được xác nhận bởi MRV, quy trình sản xuất cũng cần được hoàn thiện.
Ông Tô Văn Huấn, Chuyên viên cao cấp của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đã sửa đổi và ban hành quy trình sản xuất của đề án lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Theo đó, quy trình nhằm chuyển đổi sản xuất lúa gạo theo hướng bền vững, giảm phát thải nhưng vẫn chú trọng mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận.
Qua mô hình thí điểm thực tế với các “kịch bản” áp dụng khác nhau cho ra những mức phát thải có thể lựa chọn để tuân thủ. Trong đó, áp dụng quy trình canh tác của đề án 1 triệu héc ta kết hợp di chuyển rơm ra khỏi đồng ruộng cho kết quả phát thải khoảng 2 tấn CO₂ tương đương/héc ta.
Trong khi đó, nông dân sản xuất theo phương pháp ngập liên tục kết hợp đốt rơm phát thải khoảng 5 tấn CO₂ tương đương/héc ta; ngập liên tục kết hợp vùi rơm phát thải khoảng 15 tấn CO₂ tương đương/héc ta. Còn áp dụng quy trình của đề án 1 triệu héc ta nhưng vùi rơm thì lượng phát thải khoảng 8 tấn CO₂ tương đương/héc ta.
Những con số nêu trên là cơ sở ban đầu để các bên liên quan lựa chọn “kịch bản” phù hợp nhằm đảm bảo lượng phát thải ở mức thấp nhất khi triển khai quy mô lớn.


Để đạt hiệu quả giảm phát thải, việc sản xuất dĩ nhiên phải tuân thủ quy trình đã đề ra như trường hợp của đề án lúa phát thải thấp. Vậy, nếu xét ở khía cạnh đầu tư và lợi ích, hiệu quả giảm phát thải sẽ như thế nào?
Trao đổi với KTSG Online, ông Lê Thanh Tùng, Nguyên Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (Vietrisa), cho biết đề án hướng đến tín chỉ carbon nhằm hai mục tiêu: thứ nhất, giúp quốc gia trung hòa carbon vào năm 2050; thứ hai, thương mại hóa, tức trao đổi giữa các dự án hoặc mua bán như một loại hàng hóa. “Thương mại tín chỉ carbon mở ra cơ hội tăng thêm giá trị cho người sản xuất”, ông nói.
Tuy nhiên, mức độ thương mại hóa lớn hay nhỏ, và liệu so với công sức, nguồn lực bỏ ra để tuân thủ có mang lại thặng dư hay không vẫn là câu hỏi cần lời giải.

Theo ông Tùng, nếu tính thuần túy, việc bán tín chỉ carbon để chi trả cho người trực tiếp sản xuất là nông dân hoặc hợp tác xã, thì có thể giúp tăng thêm thu nhập. “Nhưng nếu tính cả mức độ đầu tư của dự án vào vùng sản xuất để đạt được tín chỉ carbon, thì nguồn kinh phí đầu tư là rất nhiều”, ông cho biết.
Ông Tùng dẫn chứng phần việc phải triển khai để tuân thủ, gồm san phẳng mặt ruộng, thiết kế lại hệ thống thủy lợi, đầu tư cơ giới hóa, trang bị kiến thức cho người dân, hệ thống logistics và cả xây dựng thương hiệu… “Rõ ràng, phải đầu tư rất nhiều, thành ra, với tín chỉ carbon hãy xem nó là mục tiêu phấn đấu, đừng xem là mục đích về thu nhập”, ông nêu quan điểm và cho rằng, để có giấy chứng nhận (tín chỉ carbon) có thể tốn kém rất nhiều như đã từng làm với các loại chứng nhận khác trong thực tế.
Thiết kế lại đồng ruộng và tập hợp người nông dân để thực hiện ý tưởng trên diện rộng là hai vấn đề khó khăn nhất. Bởi lẽ, hiện chưa có sự tập trung thật sự của các địa phương. “Nếu không giải quyết được hai vấn đề này, quy trình kỹ thuật chỉ triển khai theo các mô hình thôi, không thể nào nhân rộng được”, ông nhấn mạnh.
Lợi nhuận thương mại hóa tín chỉ carbon chưa chắc đủ để bù đắp chi phí tuân thủ, nhưng rõ ràng đây là con đường phải đi. Bởi lẽ, điều này giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, phù hợp với xu hướng tiêu dùng tất yếu của thị trường nhập khẩu, đồng thời, đây cũng là con đường sản xuất thích nghi với biến đổi khí hậu.
Ông Lê Minh Hoan, Phó Chủ tịch Quốc hội, cho biết kết quả thời gian qua chưa phải thành công lớn, nhưng là tín hiệu, hướng đi đúng. “Từ những mô hình tiên phong, bà con đã mạnh dạn giảm giống, phân thuốc, trong khi doanh nghiệp đã bắt đầu đo phát thải, truy xuất nguồn gốc”, ông dẫn chứng.
Theo ông, kết quả giúp chi phí giảm, đất khỏe, cây lúa bền hơn và hạt gạo Việt Nam bắt đầu có “danh tính xanh” trên thị trường quốc tế, tức không chỉ ngon mà còn là gạo của trách nhiệm. “Điều quan trọng là dịch chuyển tư duy phát triển, từ làm nhiều sang làm đúng, từ chuỗi ngành hàng sang hệ sinh thái ngành hàng”, ông nhấn mạnh.
Nếu tạm gác “tín chỉ carbon” sang một bên, rõ ràng đây là hướng đi cần thiết cho ngành lúa gạo Việt Nam khi phù hợp với xu thế, trong khi cả về môi trường lẫn hiệu quả kinh tế của người nông dân so với phương thức sản xuất truyền thống trước đó đều được chứng minh cao hơn…

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/co-hoi-xanh-co-nhung-chon-di-nhu-the-nao/












