Cơ quan Tổng Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ: Lấy dữ liệu số làm nền tảng đổi mới kiểm toán

Phát triển hạ tầng số, khai thác dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI), đồng thời chú trọng đào tạo nguồn nhân lực là những hướng đi được Cơ quan Tổng Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ (CAG) triển khai nhằm nâng cao năng lực phát hiện rủi ro, mở rộng phạm vi kiểm toán và cải thiện chất lượng quản lý tài chính công - ông Shri K. Sanjay Murthy - Tổng Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Cơ quan Kiểm toán tối cao trong bối cảnh mới: Tầm nhìn, Thể chế và Đổi mới” do KTNN Việt Nam tổ chức.

Hội thảo quốc tế “Cơ quan Kiểm toán tối cao trong bối cảnh mới: Tầm nhìn, Thể chế và Đổi mới” do KTNN Việt Nam tổ chức. Ảnh: MINH THÚY

Hội thảo quốc tế “Cơ quan Kiểm toán tối cao trong bối cảnh mới: Tầm nhìn, Thể chế và Đổi mới” do KTNN Việt Nam tổ chức. Ảnh: MINH THÚY

Hạ tầng số mở đường cho kiểm toán hiện đại

Với quy mô dân số khoảng 1,46 tỷ người, hơn 600.000 ngôi làng, khoảng 260.000 hội đồng cấp làng và 22 ngôn ngữ chính thức, Ấn Độ phải đối mặt với những thách thức lớn trong quản lý dữ liệu, cung cấp dịch vụ công và giám sát việc sử dụng nguồn lực. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ là giải pháp công nghệ mà còn tạo nền tảng để đổi mới phương thức quản trị và hoạt động kiểm toán.

Một trong những điều kiện quan trọng của quá trình này là hệ sinh thái số được phát triển trên quy mô quốc gia. Hệ thống định danh số đã bao phủ khoảng 1,44 tỷ người, trong khi các nền tảng số được mở rộng tới hơn 200.000 hội đồng cấp làng. Những nền tảng này góp phần hình thành nguồn dữ liệu lớn phục vụ quản lý, cung cấp dịch vụ công và theo dõi quá trình thực hiện các chương trình, chính sách.

Sự phát triển của các nền tảng giao dịch và mua sắm công trực tuyến cũng tạo ra những thay đổi đáng kể trong quản lý tài chính. Khi thông tin về giao dịch, hợp đồng, thanh toán và thực hiện nhiệm vụ được số hóa, cơ quan quản lý và cơ quan kiểm toán có thêm điều kiện tiếp cận dữ liệu, đối chiếu thông tin và nhận diện những dấu hiệu bất thường.

Đối với CAG, đây là cơ sở để từng bước chuyển từ phương thức kiểm toán chủ yếu dựa vào hồ sơ, chứng từ được cung cấp theo từng cuộc kiểm toán sang cách tiếp cận có khả năng khai thác dữ liệu trên diện rộng. Việc ứng dụng công nghệ giúp kiểm toán viên mở rộng phạm vi phân tích, rút ngắn thời gian xử lý thông tin và tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.

Tuy nhiên, hạ tầng số chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu được kết nối, chuẩn hóa và có khả năng kiểm chứng. Dữ liệu phân tán, thiếu thống nhất hoặc không bảo đảm chất lượng có thể làm hạn chế khả năng phân tích, thậm chí dẫn đến những đánh giá thiếu chính xác. Vì vậy, xây dựng nền tảng dữ liệu đồng bộ và nâng cao chất lượng thông tin là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình hiện đại hóa kiểm toán.

Ông Shri K. Sanjay Murthy - Tổng Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ nhấn mạnh, công nghệ chỉ phát huy tác dụng khi đội ngũ kiểm toán viên làm chủ được các hệ thống dữ liệu. Ảnh: Như Ý

Ông Shri K. Sanjay Murthy - Tổng Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ nhấn mạnh, công nghệ chỉ phát huy tác dụng khi đội ngũ kiểm toán viên làm chủ được các hệ thống dữ liệu. Ảnh: Như Ý

Dữ liệu lớn và AI nâng cao năng lực phát hiện rủi ro

Trên nền tảng hạ tầng số, CAG từng bước tăng cường khai thác dữ liệu lớn và ứng dụng AI vào hoạt động chuyên môn. Theo kinh nghiệm được chia sẻ, cơ quan kiểm toán phải xử lý khối lượng dữ liệu rất lớn, từ thông tin về mua sắm công, chi tiêu ngân sách đến hồ sơ và tài liệu của các đơn vị được kiểm toán. Khối lượng dữ liệu có thể lên tới hàng petabyte, cùng khoảng 10 triệu tài liệu mỗi năm.

Trong điều kiện đó, phương pháp kiểm tra thủ công khó đáp ứng yêu cầu về tốc độ và phạm vi phân tích. Các công cụ phân tích dữ liệu giúp kiểm toán viên sàng lọc thông tin, đối chiếu các tập dữ liệu, nhận diện xu hướng và phát hiện những giao dịch hoặc khoản chi có dấu hiệu bất thường. AI có thể hỗ trợ phân loại tài liệu, xử lý thông tin và phân tích dữ liệu theo những tiêu chí được thiết lập.

Một hướng ứng dụng đáng chú ý là phân tích dữ liệu trong lĩnh vực mua sắm công. Với khối lượng dữ liệu lớn, việc xây dựng các công cụ kiểm tra chất lượng dữ liệu và phân tích thông tin giúp cơ quan kiểm toán tăng khả năng phát hiện sai lệch, xác định những vấn đề cần kiểm tra sâu hơn. CAG cũng đề cập việc khai thác dữ liệu mua sắm công với quy mô khoảng 18 TB, cho thấy yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực xử lý và phân tích thông tin.

Cùng với đó, các hệ thống thanh toán số và nền tảng cung cấp dịch vụ công tạo ra lượng dữ liệu giao dịch đáng kể. Khi dữ liệu được sử dụng đúng cách, cơ quan kiểm toán có thể đối chiếu thông tin giữa các hệ thống, đánh giá tính nhất quán của số liệu và nhận diện những điểm cần làm rõ trong quá trình quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực công.

Đối với các chương trình an sinh và hỗ trợ xã hội, việc ứng dụng công nghệ còn mở ra khả năng theo dõi dòng tiền, kiểm tra đối tượng thụ hưởng và đối chiếu kết quả thực hiện. Đây là lĩnh vực có quy mô nguồn lực lớn, đòi hỏi cơ chế kiểm soát đủ chặt chẽ để hạn chế sai sót, trùng lặp hoặc sử dụng nguồn lực không đúng mục tiêu.

Chuyển đổi số không thuần túy là đầu tư công nghệ mà là sự thay đổi phương thức làm việc thông qua phân tích dữ liệu lớn, AI, giám sát liên tục và kiểm toán từ xa.

Ông Shri K. Sanjay Murthy - Tổng Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ

Dù vậy, công nghệ không thay thế vai trò chuyên môn và trách nhiệm của kiểm toán viên. Kết quả phân tích từ hệ thống chỉ là cơ sở để xác định dấu hiệu rủi ro, lựa chọn nội dung cần kiểm tra và hỗ trợ đưa ra nhận định. Việc đánh giá bằng chứng, xác định nguyên nhân, kết luận kiểm toán và kiến nghị xử lý vẫn cần dựa trên quy trình nghiệp vụ, căn cứ pháp lý và xét đoán chuyên môn.

Điều này đặt ra yêu cầu phải kiểm soát chất lượng dữ liệu đầu vào, tính minh bạch của phương pháp phân tích và độ tin cậy của kết quả do hệ thống tạo ra. Công nghệ chỉ thực sự nâng cao chất lượng kiểm toán khi được đặt trong một khuôn khổ quản trị rõ ràng, có cơ chế kiểm tra và xác định trách nhiệm cụ thể.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo quốc tế “Cơ quan Kiểm toán tối cao trong bối cảnh mới: Tầm nhìn, Thể chế và Đổi mới” do KTNN Việt Nam tổ chức. Ảnh: MINH THÚY

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo quốc tế “Cơ quan Kiểm toán tối cao trong bối cảnh mới: Tầm nhìn, Thể chế và Đổi mới” do KTNN Việt Nam tổ chức. Ảnh: MINH THÚY

Đào tạo kiểm toán viên, chuẩn hóa dữ liệu công

Cùng với đầu tư công nghệ, CAG chú trọng phát triển năng lực đội ngũ kiểm toán viên. Với khoảng 38.000 cán bộ chuyên môn làm việc tại 126 văn phòng, việc nâng cao kỹ năng số và thống nhất phương pháp khai thác dữ liệu có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng triển khai chuyển đổi số trên quy mô lớn.

Kiểm toán viên không chỉ cần hiểu quy trình kiểm toán mà còn phải có khả năng làm việc với dữ liệu, sử dụng công cụ phân tích và đánh giá kết quả do hệ thống hỗ trợ. Việc đào tạo cần gắn với tình huống nghiệp vụ thực tế, giúp cán bộ nhận diện giới hạn của công nghệ, kiểm tra độ tin cậy của thông tin và chuyển kết quả phân tích thành bằng chứng phục vụ kiểm toán.

Một nội dung khác được CAG quan tâm là nâng cao chất lượng dữ liệu. Các công cụ đánh giá chất lượng dữ liệu, trong đó có cách tiếp cận dựa trên chỉ số chất lượng dữ liệu (DQI), giúp nhận diện những vấn đề về tính đầy đủ, nhất quán và độ tin cậy của thông tin. Đây là cơ sở để cải thiện quy trình thu thập, quản lý và sử dụng dữ liệu, đồng thời hạn chế nguy cơ đưa ra nhận định trên những thông tin chưa được kiểm chứng đầy đủ.

Việc chuẩn hóa hướng dẫn nghiệp vụ cũng góp phần bảo đảm tính thống nhất trong toàn hệ thống. Những tài liệu hướng dẫn chuyên sâu, kể cả cẩm nang có dung lượng hàng nghìn trang, giúp chuyển hóa kinh nghiệm thành quy trình có thể áp dụng, hỗ trợ kiểm toán viên thực hiện công việc theo chuẩn mực chung và giảm sự khác biệt trong cách tiếp cận giữa các đơn vị.

Từ kinh nghiệm của Ấn Độ, chuyển đổi số trong kiểm toán cần được triển khai theo lộ trình, bắt đầu bằng đánh giá mức độ sẵn sàng về dữ liệu và công nghệ; lựa chọn các lĩnh vực phù hợp để thí điểm; đánh giá kết quả trước khi mở rộng; sau đó chuẩn hóa và thể chế hóa những phương thức đã chứng minh hiệu quả. Cách tiếp cận này giúp hạn chế đầu tư dàn trải, đồng thời bảo đảm công nghệ gắn với nhu cầu thực tế của hoạt động kiểm toán.

Đối với các cơ quan kiểm toán tối cao, bài học quan trọng không chỉ nằm ở việc ứng dụng công nghệ mới, mà còn ở khả năng xây dựng hệ sinh thái dữ liệu tin cậy, phát triển đội ngũ có năng lực số và thiết lập cơ chế kiểm soát phù hợp. Khi dữ liệu được quản lý tốt, công nghệ được sử dụng đúng mục tiêu và kiểm toán viên có đủ năng lực chuyên môn, hoạt động kiểm toán có điều kiện chuyển từ phát hiện sai sót sang nhận diện sớm rủi ro, đánh giá nguyên nhân và đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện quản trị tài chính công.

Đây cũng là hướng tiếp cận có ý nghĩa đối với KTNN Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa hoạt động, tăng cường kiểm toán dựa trên dữ liệu và nâng cao chất lượng kiến nghị. Công nghệ cần được xem là công cụ hỗ trợ đổi mới phương pháp, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, năng lực con người, khuôn khổ pháp lý và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. 

NHÓM PHÓNG VIÊN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/co-quan-tong-kiem-toan-va-kiem-soat-an-do-lay-du-lieu-so-lam-nen-tang-doi-moi-kiem-toan