'Công trình đặc biệt'
Tại Nghĩa trang liệt sĩ Vĩnh Linh, bên cạnh những phần mộ liệt sĩ còn có một 'công trình đặc biệt', đó là 7 tấm bia đá ghi chiến công oanh liệt của 7 anh hùng, liệt sĩ chống Pháp hy sinh trên chiến trường miền Nam. Đây là công trình mang ý nghĩa sâu sắc về sự tri ân những người đã ngã xuống và khát vọng thống nhất non sông trong những năm đất nước tạm thời chia cắt.
Những câu chuyện bất tử Khắc trên đá
Nhằm xây dựng biểu tượng Nam-Bắc một nhà, động viên cả nước phát huy tinh thần quả cảm trong cuộc chiến chống thực dân Pháp để tiếp tục đánh thắng giặc Mỹ, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Đài ghi công liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, bia 7 anh hùng hy sinh trong kháng chiến chống Pháp trên chiến trường miền Nam. Vị trí được chọn đặt công trình là một ngọn đồi bên bờ bắc sông Bến Hải, cách cầu Hiền Lương khoảng 6km, nay thuộc xã Vĩnh Linh.
Khi Nghĩa trang liệt sĩ Vĩnh Linh được xây dựng, vị trí đài ghi công và các tấm bia đá nằm vào giữa nghĩa trang, cách phía sau tượng đài chính khoảng 100m. Theo tài liệu để lại, công trình được khởi công vào ngày 28/4/1958 và hoàn thành vào đúng ngày 27/7/1958. Khi đó, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng từ Hà Nội đã vào dự lễ khánh thành.
Mỗi tấm bia là một câu chuyện về cuộc đời và chiến công của người anh hùng đã hy sinh vì Tổ quốc. Bia số 1 ghi công liệt sĩ Trần Đức (SN 1917), ở tỉnh Thanh Hóa, là tiểu đội trưởng bắn trung liên rất giỏi, góp phần quyết định thắng lợi trong nhiều trận đánh.
Bia số 2 ghi công liệt sĩ Lê Công Khai (SN 1925) ở tỉnh Thanh Hóa. Hè năm 1954, trận đánh Đắc Doa, dù bị thương gãy cả 2 chân, đồng chí vẫn chỉ huy đơn vị tiêu diệt gọn 1 đại đội địch.

Thời gian và bom đạn chiến tranh đã để lại nhiều dấu tích trên các tấm bia ghi công - Ảnh: L.A
Bia số 3 ghi công liệt sĩ Nguyễn Đô Lương (SN 1923) ở tỉnh Hà Tĩnh. Đồng chí có 8 năm làm trinh sát, phụ trách điều tra Hòn Bàng (Quảng Nam). Dù địch canh phòng cẩn mật, đồng chí vẫn ba lần tiếp cận, điều tra chính xác tình hình rồi rút lui an toàn. Lần cuối cùng đồng chí bị địch bắt nhưng kịp hô to để anh em chạy thoát. Liệt sĩ Nguyễn Đô Lương bị địch bắt, tra tấn dã man nhưng không khuất phục được nên đã bị sát hại.
Bia số 4 ghi công liệt sĩ Trương Văn Ly (SN 1924) ở tỉnh Quảng Bình (cũ). Đồng chí chiến đấu trên 100 trận ở chiến trường Nam Trung bộ. Trận Cầu Cháy (2/1952), nổ súng được 15 phút, tổ súng máy bị thương vong hết. Địch phản kích mạnh, đồng chí bình tĩnh dùng súng máy quét vào đội hình địch rồi lệnh đơn vị xung phong, đồng chí vượt lên đầu để chỉ huy, bị trúng đạn hy sinh. Toàn đơn vị xông lên đánh tan cuộc phản kích của đại đội địch.
Bia số 5 ghi công liệt sĩ Ngô Mây (SN 1924) ở tỉnh Bình Định, nay là tỉnh Gia Lai. Chiến sĩ trong trung đội quyết tử đã từng viết thư bằng máu để xin ôm bom diệt địch và dũng cảm hy sinh.
Bia số 6 ghi công liệt sĩ Ngô Chí Quốc (SN 1929) ở TP. Hồ Chí Minh-người đã từng tham gia 100 trận trên chiến trường Nam bộ.
Bia số 7 ghi công liệt sĩ Vừu (Wừu), dân tộc Ba Na. Từ năm 1950-1952, đồng chí là Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính xã Nam Đak Đoa kiêm xã đội trưởng. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn dã man nhưng đồng chí không khai báo và tìm cách trốn thoát về tiếp tục hoạt động cách mạng... Ngoài ra, trong hệ thống bia còn có bia số 8 ghi tên công trình; thời gian xây dựng; người ghi chép.
Sẽ sớm tôn tạo "công trình đặc biệt"
Trải qua gần 7 thập kỷ chịu tác động của bom đạn chiến tranh và thời gian khiến những tấm bia (ngoại trừ bia ghi tên anh hùng Ngô Mây còn tương đối nguyên vẹn) bị hư hỏng, xuống cấp, rất khó đọc được nội dung khắc trên đó.
Chủ tịch UBND xã Vĩnh Linh Nguyễn Thiên Tùng cho biết, Đài ghi công liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, bia 7 anh hùng đã hy sinh trong kháng chiến trên chiến trường miền Nam mang ý nghĩa lịch sử rất quan trọng. Bởi vậy, việc bảo tồn 7 tấm bia không đơn thuần là sửa chữa một công trình đã xuống cấp. Đó là câu chuyện làm thế nào để vừa giữ nguyên những chứng tích lịch sử, vừa bảo đảm cho thế hệ hôm nay và mai sau có thể tiếp cận đầy đủ những giá trị mà công trình đang lưu giữ.
Ông Tùng cho biết, quan điểm của địa phương là giữ nguyên các tấm bia gốc, bởi chính những dấu tích trên đó cũng là một phần giá trị lịch sử của công trình. Thay vào đó, phương án đang được tính toán là xây dựng thêm hệ thống bia phụ ở hai bên cánh gà của công trình. Các bia phụ sẽ được đánh số theo thứ tự tương ứng với từng tấm bia chính, trên đó khắc lại đầy đủ nội dung được ghi trên bia gốc. Đồng thời ứng dụng công nghệ số để lưu giữ và lan tỏa giá trị của 7 tấm bia. Theo đó, bên cạnh các tấm bia chính sẽ được gắn thêm mã QR để người dân và khách đến viếng có thể sử dụng điện thoại tra cứu thông tin về từng tấm bia, từng anh hùng cũng như lịch sử hình thành công trình.
Cùng với đó, địa phương sẽ tiếp tục sưu tầm, bổ sung các tư liệu liên quan đến quá trình xây dựng công trình, tiểu sử, chiến công của 7 anh hùng được ghi danh. Đây là việc làm cần thiết nhằm hoàn thiện hồ sơ tư liệu về một công trình có giá trị lịch sử đặc biệt.
“Địa phương đã đưa nội dung này vào kế hoạch đầu tư công năm 2027. Tuy nhiên, do công trình liên quan đến nhiều yếu tố đặc biệt, từ lịch sử, kiến trúc đến tâm linh nên sau khi hoàn thiện phương án thiết kế, địa phương sẽ xin ý kiến các cơ quan chuyên môn, ngành văn hóa và các đơn vị liên quan trước khi triển khai”, ông Nguyễn Thiên Tùng chia sẻ.
Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/xa-hoi/202607/cong-trinh-dac-biet-3591a32/











