Mật ngữ làng cổ hơn 500 năm ở Quảng Trị

Hơn 500 năm, dân làng Phú Hải bảo tồn 'mật ngữ' vừa là bí quyết bảo vệ nghề, vừa là sợi dây liên kết cộng đồng, minh chứng cho trí tuệ dân gian đỉnh cao.

Làng cổ chuyên ‘phụng sự cõi âm’

Một ngày trung tuần tháng Năm, chúng tôi đến làng Phú Hải (thuộc thôn Phương Hải, xã Vĩnh Định, tỉnh Quảng Trị) khi những cơn gió Lào đang quật hơi nắng nóng rát mặt. Ngôi làng nhỏ có niên đại hơn 500 năm nép mình bên dòng sông Vĩnh Định hiền hòa, nhưng câu chuyện của làng thì không hề bình lặng.

Theo các vị cao niên, tổ tiên làng Phú Hải vốn là những di dân từ đất Thanh Hóa, vào khai khẩn lập ấp từ nửa thiên niên kỷ trước. Qua bao biến thiên dâu bể, từ thuở “cát bay cát lấp” nơi cửa biển cho đến khi lùi sâu vào nội đồng, người dân nơi đây đã chọn cho mình một lối riêng.

Con đường bê tông nối vào ngôi làng cổ Phú Hải

Con đường bê tông nối vào ngôi làng cổ Phú Hải

Trên vùng đất cằn cỗi, ruộng cát khô ran, người dân Phú Hải không chọn cách đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt mà tạo nguồn sống từ những nghề được gọi là “phụng sự cõi âm”: làm hàng mã, hành nghề thầy cúng và đánh bát âm cổ nhạc phục vụ trống kèn tại các đám hiếu, đám giỗ…

Đi một vòng quanh làng, vào nhà nào cũng thấy người cặm cụi cắt dán, tạo hình những vật dụng như mũ ô sa, giày dép, sắc phục dành cho cõi vĩnh hằng. Nhiều người độ tuổi trung niên bàn về các nghi thức cúng bái bằng thứ “mật ngữ” rất khó hiểu. Khi chúng tôi muốn tìm hiểu thêm, tất cả đều im lặng. Một người dân chỉ dẫn chúng tôi đến gặp ông Ánh - hội chủ làng.

Trong căn nhà cấp bốn giản dị nhưng ấm cúng, bao quanh là những xấp giấy ngũ sắc và mùi hồ dán đặc trưng, ông Hồ Công Ánh tiếp khách với phong thái của người giữ lửa cho làng.

Nhấp chén trà xanh đậm chất Quảng Trị, ông Ánh chậm rãi nói: “Từ thuở xa xưa, tiền nhân làng Phú Hải đã sáng chế ra thứ mật ngữ của riêng mình. Người ngoài không thể biết được, và người làng cũng không bao giờ tự tiện mang ra phô diễn. Ngôn ngữ đặc biệt này không đơn thuần chỉ để diễn dịch. Nó là sự kết tinh của tri thức, lòng kiên trung và cả cái đạo làm nghề”.

Ông Hồ Công Ánh chia sẻ với phóng viên thông tin cơ bản về “mật ngữ” của làng

Ông Hồ Công Ánh chia sẻ với phóng viên thông tin cơ bản về “mật ngữ” của làng

Theo ông Ánh, mật ngữ Phú Hải ra đời từ một nhu cầu rất thực tế: bảo vệ bí mật nghề nghiệp. Trong giới thầy cúng và nhạc bát âm xưa kia, mỗi ngôi làng đều có bài cúng, nghi thức riêng. Nếu để người ngoài học lỏm, miếng cơm manh áo sẽ bị đe dọa.

Làm nghề thầy cúng mà lộ thiên cơ thì khó lòng trụ vững. Mật ngữ ra đời để các thầy, các thợ trao đổi với nhau ngay trước mặt gia chủ mà không ai hay biết. Đó vừa là cách giữ nghề, vừa là cách giữ sự uy nghiêm cho cái nghiệp mình đang mang”, ông Ánh nhấn mạnh.

Không chỉ là công cụ giao tiếp, thứ ngôn ngữ này còn là “căn cước” nhận diện người gốc làng Phú Hải sinh sống ở nhiều tỉnh thành. Dù đi đến đâu, người làng chỉ cần thốt lên vài âm tiết là đã nhận ra đồng hương. Sợi dây liên kết vô hình ấy lại vô cùng bền chặt.

Cứ 6 năm một lần, làng tổ chức đại lễ kéo dài 3 ngày đêm tại đình làng. Đó là lúc con cháu từ khắp nơi sum vầy, cùng thực hiện các nghi thức cổ truyền và nghe lại mật ngữ của cha ông, nhắc nhở về nguồn gốc và bản sắc riêng của làng mình.

Trí tuệ dân gian ẩn sau phép ‘chiết tự’

Để hình dung rõ hơn về những “mật ngữ” này, ông Ánh chia sẻ những ví dụ cụ thể, và đây cũng là phần thú vị nhất, cho thấy trí tuệ dân gian của tiền nhân làng Phú Hải không hề thua kém các bậc hàn lâm.

Đình làng Phú Hải được sơn sửa chuẩn bị cho “đại lễ” 6 năm 1 lần vào tháng 5 Bính Ngọ

Đình làng Phú Hải được sơn sửa chuẩn bị cho “đại lễ” 6 năm 1 lần vào tháng 5 Bính Ngọ

Muốn nói “con cá”, người làng nói “chấm chin”. Giải mã: chữ Ngư (cá) trong chữ Hán có bốn dấu chấm phía dưới như bốn cái chân. Mà trong tiếng địa phương Quảng Trị, “chân” đọc là “chin” - nên “chấm chin” là cách gọi “cá”. Hay như từ “tỏi” dùng để chỉ hành động “đi”: trong chữ Hán, “hành” là đi, người Việt thường gọi chung “hành-tỏi”, nên “tỏi” được mượn thay cho “đi”.

Ông Ánh còn kể một tình huống, thầy cúng đang làm lễ thì phát hiện thiếu một tờ sớ. Nếu nói thẳng, gia chủ sẽ nói thầy làm việc tắc trách, nên thầy quay sang phụ tá và nói nhẹ nhàng: “Khiểm thất trương chỉ”. Gia chủ cứ ngỡ thầy đang lâm râm đọc thần chú. Thực chất, câu đó có nghĩa “Thiếu một tờ sớ, mau lấy bổ sung”: “khiểm” là biến âm của “khiếm” (thiếu hụt), “thất” theo quy ước làng là số 1, “trương chỉ” là tờ giấy. Một cách xử lý vừa chuyên nghiệp, vừa giữ được sự tôn nghiêm cho buổi lễ.

Ông Trần Đức Tảo - người từng giữ chức Hội chủ làng Phú Hải hơn 15 năm - chia sẻ thêm: Hệ thống từ vựng mật ngữ cực kỳ đồ sộ, thấm sâu vào sinh hoạt hằng ngày: vợ gọi là “nghéo”, con gọi là “sơ”; ăn là “khẩu”, uống là “cựa”, quán nước gọi là “xá”; quần gọi là “chến”, áo gọi là “ơi”; các số đếm: 1 là thất, 2 là lạng, 3 là duông, 4 là sùng, 5 là ngâu, 6 là lôi…

Ông Hồ Công Ánh - Hội chủ làng Phú Hải cùng cháu nội bên những mặt hàng mã do ông làm ra.

Ông Hồ Công Ánh - Hội chủ làng Phú Hải cùng cháu nội bên những mặt hàng mã do ông làm ra.

Hiện nay, làng Phú Hải chỉ có khoảng hơn 50 hộ dân với gần 300 nhân khẩu. Trong thời đại bùng nổ thông tin, khi các giá trị truyền thống dễ bị mai một, người làng Phú Hải vẫn đứng vững với nghề. Những “mật ngữ” ấy lặng lẽ tồn tại song song với ngôn ngữ phổ thông.

Rời làng Phú Hải khi bóng chiều đã đổ, chúng tôi vương vấn suy nghĩ về một ngôi làng không chỉ chăm lo cho cõi âm chu toàn, mà còn đang thầm lặng bảo tồn một trong những ngôn ngữ độc đáo nhất của dải đất miền Trung nắng gió. “Mật ngữ” làng Phú Hải không chỉ là tiếng lóng của một nghề, đó là tiếng lòng của một cộng đồng luôn biết cách tự hào và bảo vệ bản sắc riêng trước dòng chảy hiện đại hóa.

Xét về mặt ngôn ngữ học, ‘mật ngữ’ của làng cổ Phú Hải mang nét văn hóa đặc trưng riêng biệt, thể hiện trí tuệ dân gian đỉnh cao trong việc thích ứng với nghề nghiệp đặc thù.

Nó không đơn thuần là tiếng lóng sinh hoạt, mà là một tập hợp các quy ước mang tính chiết tự Hán - Nôm và tư duy logic cao. Loại hình ngôn ngữ này đã được đưa vào danh sách kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh và đang chờ xem xét”, ông Ngô Quốc Phong - Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Quảng Trị.

BẢO THIÊN - NGUYỄN VƯƠNG

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/mat-ngu-lang-co-hon-500-nam-o-quang-tri-ar1030122.html