Công trình trọng điểm: Đừng chỉ nhìn vào tỷ lệ giải ngân

Chính phủ vừa tổ chức Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo các công trình trọng điểm trong lĩnh vực Công Thương và Xây dựng. Hàng loạt con số về dự án chậm tiến độ, giải ngân thấp, thiếu vật liệu và những điểm nghẽn trong chuẩn bị đầu tư cho thấy một yêu cầu không thể né tránh: với những công trình sử dụng nguồn lực lớn và có ý nghĩa chiến lược, thước đo tiến độ phải được nhìn bằng khối lượng thực hiện, khả năng hoàn thành và hiệu quả đầu tư, chứ không chỉ bằng số tiền đã giải ngân.

Ảnh minh họa 

Ảnh minh họa 

Khi hàng chục nghìn MW vẫn nằm ở khâu chuẩn bị

Một trong những vấn đề đáng chú ý tại phiên họp là tiến độ các dự án năng lượng. Theo Bộ Công Thương, trong 18 dự án điện LNG thuộc danh mục theo dõi, 16 dự án đã lựa chọn được chủ đầu tư nhưng mới có 2 dự án khởi công; 14 dự án vẫn đang hoàn thiện các bước chuẩn bị đầu tư. Hai dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư là LNG Nghi Sơn và LNG Long Sơn.

Đáng lưu ý hơn, 18 dự án này có tổng công suất hơn 20.000 MW, nhưng Bộ trưởng Bộ Công Thương cho biết hiện chỉ LNG Hiệp Phước được đánh giá có khả năng đáp ứng tiến độ. Phần lớn các dự án còn lại đang gặp khó khăn trong quá trình chuẩn bị đầu tư và hoàn thiện các điều kiện cần thiết để triển khai.

Những con số này cho thấy một vấn đề không chỉ nằm ở tiến độ của từng nhà máy. Khi các dự án năng lượng có quan hệ liên kết trong chuỗi khí - điện, một mắt xích chậm có thể tác động tới cả chuỗi. Vì vậy, yêu cầu đánh giá tiến độ phải được đặt ngay từ những khâu đầu tiên: chuẩn bị đầu tư, quyết định đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, thu xếp vốn, hợp đồng mua bán điện, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu và cuối cùng mới là vận hành thương mại.

Đây cũng chính là cách tiếp cận mà Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu tại phiên họp: với các dự án năng lượng, phải xây dựng tiến độ cụ thể cho từng dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đến vận hành thương mại; không chỉ nhìn vào mốc vận hành thương mại (COD) cuối cùng mà phải theo dõi từng mốc trong toàn bộ quá trình để nhận diện sớm nguy cơ chậm tiến độ.

Ở góc độ quản trị nguồn lực, điều này có ý nghĩa đặc biệt. Một dự án chưa khởi công không chỉ có nghĩa là công trình chưa được xây dựng; nó còn đồng nghĩa với nguồn lực đất đai, vốn, quy hoạch, năng lực đầu tư và kỳ vọng về năng lực sản xuất điện chưa được chuyển hóa thành giá trị thực tế.

Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Hà Thị Mỹ Dung phát biểu tại phiên họp. Ảnh: Chinhphu.vn

Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Hà Thị Mỹ Dung phát biểu tại phiên họp. Ảnh: Chinhphu.vn

Từ thực tế kiểm toán một số dự án, tỷ lệ giải ngân có thể bao gồm cả vốn tạm ứng nên chưa phản ánh đầy đủ tiến độ thực tế. Vì vậy, đánh giá tiến độ cần đặt tỷ lệ giải ngân trong tương quan với khối lượng thi công, nghiệm thu và khả năng hoàn thành theo kế hoạch.

Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Hà Thị Mỹ Dung

Giải ngân thấp chỉ là phần nổi của rủi ro

Trong lĩnh vực xây dựng, Bộ Xây dựng cho biết hiện có 55 dự án với 124 dự án thành phần thuộc diện theo dõi, chỉ đạo. Trong 61 dự án, dự án thành phần đang thi công, có 19 dự án chậm tiến độ; nhóm đang chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu có thêm 7 dự án chậm.

Đặc biệt, có 25 dự án, dự án thành phần có tỷ lệ giải ngân dưới 20%, trong đó 6 dự án chưa giải ngân. Dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội mới đạt tỷ lệ giải ngân 21,2%; dự kiến thời gian hoàn thành được chuyển sang năm 2027, thông xe kỹ thuật đầu năm 2028, chậm khoảng 2 năm so với kế hoạch ban đầu.

Tại phiên họp, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Hà Thị Mỹ Dung lưu ý rằng tỷ lệ giải ngân có thể bao gồm cả vốn tạm ứng, do đó chưa phản ánh đầy đủ tiến độ thực tế. Đánh giá một dự án vì vậy cần đồng thời xem xét tỷ lệ giải ngân, khối lượng thi công, nghiệm thu và khả năng hoàn thành theo kế hoạch.

Bởi nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ giải ngân, một dự án có thể cho thấy “tiến độ tài chính” khá tích cực nhưng khối lượng thực hiện tại công trường lại chưa tương xứng. Ngược lại, có dự án giải ngân thấp nhưng nguyên nhân nằm ở việc chưa đến thời điểm thanh toán khối lượng, hoặc đang vướng mặt bằng, vật liệu, thủ tục.

Do đó, giải ngân là một chỉ báo quan trọng nhưng không thể là thước đo duy nhất của tiến độ.

Rủi ro còn nằm ở những yếu tố phía sau con số giải ngân. Báo cáo tại phiên họp cho thấy một số dự án giao thông gặp khó về nguồn vật liệu; có trường hợp trữ lượng được xác định đủ nhưng công suất cung ứng thực tế chỉ khoảng 30%. Giá vật liệu xây dựng bình quân tăng khoảng 18-20%, trong khi mức dự phòng chi phí tại nhiều dự án khoảng 10%.

Như vậy, nếu chỉ thúc đẩy giải ngân mà không đồng thời kiểm soát khả năng cung ứng vật liệu, biến động chi phí, chất lượng thi công và khối lượng nghiệm thu, nguy cơ có thể chuyển từ chậm tiến độ sang tăng chi phí, kéo dài thời gian và giảm hiệu quả đầu tư.

Từ giải ngân đến giá trị của công trình

Điểm đáng chú ý của phiên họp không chỉ nằm ở những dự án chậm tiến độ, mà ở yêu cầu thay đổi cách thức theo dõi, quản trị các công trình trọng điểm. Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu Ban Chỉ đạo phải hoạt động thực chất, tập trung vào những điểm nghẽn liên ngành, đồng thời xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả. Việc từng bước hình thành hệ thống theo dõi, giám sát cũng hướng tới một yêu cầu quan trọng hơn: nhận diện và cảnh báo rủi ro trước khi dự án rơi vào chậm tiến độ, chậm giải ngân.

Với những công trình quy mô lớn, kiểm soát không thể chỉ bắt đầu khi vốn đã được giải ngân hoặc khi công trường xuất hiện vấn đề. Rủi ro của dự án có thể hình thành ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư: quy hoạch có phù hợp không; phương án đầu tư có khả thi không; nguồn vốn có được bảo đảm không; mặt bằng có thể bàn giao theo tiến độ không; vật liệu có đủ và đúng thời điểm không; hợp đồng phân bổ rủi ro ra sao; năng lực nhà thầu có tương xứng với quy mô dự án?

Nếu những câu hỏi này chưa được giải quyết thỏa đáng từ đầu, việc xử lý chậm tiến độ ở giai đoạn thi công nhiều khi chỉ là xử lý phần ngọn của một vấn đề đã được hình thành từ trước.

Khi dự án triển khai, tỷ lệ giải ngân cũng không thể trở thành thước đo duy nhất. Giải ngân là một chỉ báo về dòng tiền, nhưng không đồng nhất với khối lượng hoàn thành hay hiệu quả đầu tư. Cần đặt tỷ lệ giải ngân trong tương quan với khối lượng thi công, khối lượng nghiệm thu, chất lượng công trình và tiến độ thực tế.

Một dự án giải ngân cao nhưng khối lượng thực hiện không tương xứng chưa thể được xem là đạt hiệu quả. Ngược lại, một dự án giải ngân thấp cũng cần được nhìn từ nguyên nhân và tác động thực tế: do thủ tục, giải phóng mặt bằng, thiếu vật liệu, năng lực tổ chức thực hiện hay những yếu tố khách quan khác. Điều cần đo không chỉ là dòng vốn đã đi đến đâu, mà là nguồn vốn ấy đã chuyển hóa thành khối lượng, tài sản và giá trị đến đâu.

Đó là cách nhìn một dự án như một vòng đời của nguồn lực: từ quyết định đầu tư, bố trí vốn, tổ chức thực hiện, nghiệm thu đến vận hành, khai thác. Giá trị của nguồn lực công vì thế không thể chỉ được xác định tại một thời điểm, mà phải được nhìn qua cả quá trình chuyển hóa từ vốn thành công trình, từ công trình thành tài sản và từ tài sản thành giá trị phát triển.

Điều này càng có ý nghĩa khi Nhà nước đang thúc đẩy nhiều công trình quy mô lớn, có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, hạ tầng và an ninh năng lượng. Quy mô nguồn lực càng lớn, thời gian sử dụng tài sản càng dài thì yêu cầu quản trị theo vòng đời càng trở nên quan trọng. 

Bởi vậy, đẩy nhanh tiến độ không đồng nghĩa với nới lỏng kiểm soát. Ngược lại, càng thúc đẩy nhanh đầu tư, càng phải kiểm soát chặt những yếu tố có thể tạo ra rủi ro về chất lượng, chi phí, an toàn và hiệu quả. Yêu cầu của Phó Thủ tướng Thường trực về bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả và không đánh đổi chất lượng lấy tiến độ chính là đặt giới hạn cần thiết cho quá trình tăng tốc.

Việc thành lập và vận hành Ban Chỉ đạo các công trình trọng điểm cho thấy yêu cầu thúc đẩy đầu tư đang được đặt ở mức cao. Nhưng một cơ chế chỉ đạo mạnh chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi tạo ra những thay đổi có thể đo đếm được: điểm nghẽn được tháo gỡ, tiến độ được cải thiện, chất lượng được bảo đảm, chi phí được kiểm soát và tài sản được đưa vào khai thác đúng mục tiêu.

Thế Hiếu

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/cong-trinh-trong-diem-dung-chi-nhin-vao-ty-le-giai-ngan-