Cuộc đời binh nghiệp của bố tôi- Trung tướng, Giáo sư Tiến sĩ KHQS Phạm Hồng Sơn
103 năm trước đây, bố tôi, Trung tướng, Giáo sư Tiến sĩ KHQS Phạm Hồng Sơn được sinh ra tại thị xã Phủ Lạng Thương, nay là thành phố Bắc Giang (cũ), tỉnh Bắc Ninh. Ông tuổi Nhâm Tuất, nhưng theo giấy khai sinh ông ra đời vào ngày 27-2-1923.

Trung tướng, Giáo sư Tiến sĩ KHQS Phạm Hồng Sơn. Ảnh: Phạm Quân
Được sinh ra và trưởng thành trong một kỷ nguyên vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam - Kỷ nguyên Hồ Chí Minh, ông cùng với các đồng đội đã cống hiến trọn cuộc đời của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời là một trong những tướng lĩnh sĩ quan cao cấp xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam đã trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu và chiến thắng hàng trăm trận đánh oanh liệt trên khắp các chiến trường.
Là cựu sinh viên Trường Luật Đông Dương, ông tham gia cách mạng từ tháng 3-1945, sau Tổng khởi nghĩa 19-8-1945, gia nhập quân đội và được giới thiệu đi học Trường Quân chính kháng Nhật khóa 4.
Từ tháng 9-1945, ông chỉ huy Đại đội 72 học sinh Trường Quân chính kháng Nhật vào Nam chiến đấu từ khu vực Đrăng - Di Linh đánh chặn quân Nhật đi từ Sài Gòn lên Đà Lạt cuối năm 1945, phòng ngự chống Pháp khi chúng vừa mới quay trở lại xâm lược miền Nam Việt Nam...

Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối tháng 12 năm 1946, ông đã chỉ huy Tiểu đoàn 55 thuộc Trung đoàn Bắc Bắc. Ảnh: Phạm Quân
Cuối tháng 12-1946, ông đã chỉ huy Tiểu đoàn 55 thuộc Trung đoàn Bắc Bắc, sau đó là Trung đoàn 121 Phúc - Thái (Phúc Yên - Thái Nguyên) đánh chặn quân Pháp trên các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ như Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên…
Từ năm 1949, ông được phân công làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36 Anh hùng - một trong ba trung đoàn bộ binh của Đại đoàn 308 - Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Với các chiến thắng trong các trận Khâu Luông và Cốc Xá trong Chiến dịch Biên giới 1950, ông đã chỉ huy Trung đoàn 36 hoàn thành thắng lợi các trận đánh lớn nhất, oanh liệt, phá tan kế hoạch hành binh, đập tan thế trận chiến dịch của cả hai Binh đoàn chủ lực địch là Lơ Page và Sác tông...
Với cách đánh sáng tạo, ông đã sử dụng Đại đội 395 Tiểu đoàn 89 bí mật men theo vách đá hình thành mũi luồn sâu, bất ngờ từ trên cao đánh xuống ngay vào bộ chỉ huy binh đoàn Lơ-pa-giơ, phía sau Tiểu đoàn 154 đánh thốc hậu và tiểu đoàn 11 chặn đường rút của địch.
Trong bốn ngày liên tiếp từ ngày 3 đến 7-10-1950, ông đã chỉ huy 4 tiểu đoàn gồm 80, 89 của Trung đoàn 36 và tiểu đoàn 11(E 102) và tiểu đoàn 154 (E 209) tăng cường tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Bay-a thiện chiến của quân đội Pháp gồm bốn tiểu đoàn (3 tiểu đoàn Bắc Phi: 1 Ta-bo, 11 Marốc, 1/8 RTM và tiểu đoàn 1 (1er BEP), diệt hơn 500 quân địch riêng tại Khâu Luông, bắt sống Đại tá Lơ-pa-giơ, đại tá Đuy-rích cùng toàn bộ bộ chỉ huy binh đoàn Lơ-pa-giơ cùng trên một nghìn tù binh Âu - Phi và 4 khẩu pháo 105 ly cùng nhiều vũ khí, trang bị khác. Tiểu đoàn 84 thuộc Trung đoàn 36 phục kích bắt sống Trung tá Sác tông cùng hầu hết Ban tham mưu của Binh đoàn Sác tông và hàng trăm lính dù, Tabo, Maroc của binh đoàn này tại Bản ca.

Trung tướng Nguyễn Bá Lực trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Đại tá Đinh Xuân La; thân nhân gia đình Trung tướng, Giáo sư Phạm Hồng Sơn và Thiếu tướng Lã Ngọc Châu. Ảnh: Anh Sơn
Sau Chiến dịch, Trung đoàn được tặng thưởng huân chương Quân công hạng Nhì, bố tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất là tấm huân chương đầu tiên bố tôi được tặng thưởng trong chiến tranh. Đến thăm Trung đoàn tại Nam Lũng Phầy, Bác Hồ ban tặng Trung đoàn câu nói nổi tiếng “Bác bảo đi là đi, Bác bảo đánh là đánh, đánh là thắng!”.
Trong Chiến dịch Hòa bình Thu Đông 1951, bắt đầu từ ngày 10-12-1951 đến 20-2-1952, bố tôi đã chỉ huy Trung đoàn 36 Bắc Bắc đánh gần trăm trận lớn nhỏ, tiêu diệt gần 600 địch, bắt 73 tên, 12 hàng binh, phá hủy 4 pháo 105 ly, bắn chìm 4 tàu chiến, 6 ca nô, 2 xà lan, bắn rơi 8 máy bay, thu hàng trăm súng pháo các loại.
Với thành tích của mình, ngày 27-3-1952, Trung đoàn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên dương, Quốc hội và Chính phủ tặng Huân chương Quân công hạng Ba và được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng Lá cờ thêu 4 chữ vàng “Quyết đánh, quyết thắng” và thư căn dặn Trung đoàn phải “giữ nguyên truyền thống lập nhiều chiến công to hơn nữa”.
Chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản năm 1952 - là chiến thắng lớn thứ ba trong cuộc đời binh nghiệp của bố tôi, khi ông được trực tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh là Tư lệnh chiến dịch Tây Bắc giao nhiệm vụ ngày 10-11-1952 chỉ huy Trung đoàn 36 hành quân thần tốc hơn 200km đường rừng trong 3 ngày 2 đêm từ Tây Bắc về Phú Thọ đánh bại cuộc hành binh Loren (Lorraine) của ba Binh đoàn cơ động địch do tướng R.Xa-lăng (R.Salan) - Tư lệnh quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương trực tiếp chỉ huy tiến công hậu phương chiến dịch ta ở Phú Thọ nhằm buộc chủ lực Quân đội nhân dân Việt nam đang tiến hành đợt 2 Chiến dịch Tây Bắc phải quay lại đối phó.
Ngay khi về tới Phú Thọ, trong đêm 16-11-1952, bố tôi đã chỉ huy bộ đội thiết lập trận địa phục kích từ Chân Mộng tới Trạm Thản trên một quãng đường dài 27km và trong sáng 17, Trung đoàn 36 do bố tôi trực tiếp chỉ huy với hai tiểu đoàn 80 và 89 chỉ với vũ khí bộ binh đã bất ngờ tiến công một lực lượng Pháp có ưu thế áp đảo cả về quân số, vũ khí trang thiết bị, pháo binh và không quân với hơn 100 xe tăng, bọc thép và xe tải bao gồm: Binh đoàn cơ động G.M.4 dưới quyền đại tá Kéc-ga-va-ra đi đầu, Binh đoàn cơ động G.M.1 do trung tá Bát-tia-va-ni chỉ huy bảo vệ phía sau.
Mỗi binh đoàn cơ động G.M của Pháp đều có pháo binh riêng; ngoài ra, tham gia đoàn còn có các đơn vị pháo binh của Binh đoàn cơ động G.M3 và một khẩu 155 ly. Hơn nữa, G.M4 còn được tăng cường thêm một đại đội xe tăng của R.I.C.M (trung đoàn bộ binh Ma-rốc); về phía mình, G.M.1 cũng giữ lại tiểu đoàn thiết giáp số 1.
Ba tiểu đoàn bộ binh trong thành phần các binh đoàn cơ động này có thể được xếp vào loại mạnh nhất trong quân đội Pháp ở Đông Dương; đứng đầu là Tiểu đoàn khinh binh Đông Dương gồm có các đơn vị chính quốc, một đại đội Cao Miên và một đại đội các thổ dân đáng gờm ở miền núi Việt Nam. Đi sau là tiểu đoàn 2 của trung đoàn lê dương số 2. Tiểu đoàn 4 của trung đoàn 7 R.T.A (trung đoàn bộ binh An-giê-ri) chịu trách nhiệm bảo vệ phía sau.
Kết quả trận đánh, Trung đoàn 36 trong phục kích vận động đã đánh thiệt hại nặng cả hai binh đoàn cơ động mạnh nhất Đông dương của Pháp lúc bấy giờ, tiêu diệt tại chỗ hơn 400 tên địch, bắt sống 84 tù binh…
Chiều 5-2, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 34 long trọng tổ chức Lễ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Đại tá Đinh Xuân La, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66, Sư đoàn 10 và truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho 2 đồng chí: Trung tướng, Giáo sư Phạm Hồng Sơn, nguyên Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên (B3) và Thiếu tướng Lã Ngọc Châu, nguyên Chính ủy Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 (nay là Quân đoàn 34).











