Cứu sống nhiều thai nhi nguy kịch nhờ can thiệp bào thai

Từ tháng 3-2025, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội triển khai kỹ thuật đặt shunt dẫn lưu trong xử trí tràn dịch màng phổi thai nhi, bước đầu ghi nhận hiệu quả trong cải thiện tiên lượng cho thai nhi ngay từ trong tử cung. Thành tựu này không chỉ khẳng định sự làm chủ các kỹ thuật chuyên sâu của bệnh viện tuyến cuối, mà còn là một điểm sáng đầy tự hào của ngành y tế Thủ đô.

Kịp thời xử trí các trường hợp nguy cơ cao ngay trong thai kỳ

Mới đây nhất, Trung tâm Can thiệp bào thai, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã xử trí một trường hợp thai nhi 29 tuần tuổi trong tình trạng nguy kịch do tràn dịch màng phổi hai bên với số lượng lớn.

Sản phụ N.T.T (Bắc Ninh) và con sau ca can thiệp bào thai điều trị tràn dịch màng phổi tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, trẻ chào đời trong tình trạng ổn định. Ảnh: BVCC

Sản phụ N.T.T (Bắc Ninh) và con sau ca can thiệp bào thai điều trị tràn dịch màng phổi tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, trẻ chào đời trong tình trạng ổn định. Ảnh: BVCC

Sản phụ N.T.T (sinh năm 1995, Bắc Ninh) được phát hiện bất thường trong lần khám thai định kỳ. Ngày 23-3-2026, sản phụ quyết định tới Bệnh viện Phụ sản Hà Nội kiểm tra.Kết quả cho thấy, thai nhi đã xuất hiện phù thai, dày da đầu, nguy cơ thai lưu cao nếu không can thiệp kịp thời. Trước diễn biến nhanh và nặng, lãnh đạo bệnh viện hội chẩn liên chuyên khoa và quyết định can thiệp nội soi buồng ối, đặt đồng thời hai shunt dẫn lưu cho cả hai khoang màng phổi.

Ca can thiệp được thực hiện ngày 24-3, kéo dài khoảng một giờ. Sau can thiệp, các shunt hoạt động ổn định, lượng dịch giảm rõ rệt, tình trạng chèn ép tim được cải thiện, giúp kiểm soát nguy cơ suy tim và phù thai.

Nếu trường hợp trên cho thấy yêu cầu xử trí cấp cứu trong tình huống nguy kịch, thì một ca bệnh khác lại phản ánh hiệu quả của việc can thiệp sớm và theo dõi kéo dài trong thai kỳ. Sản phụ N.T.T (30 tuổi, Thanh Hóa) được phát hiện thai nhi tràn dịch màng phổi từ tuần 22, dù trước đó các xét nghiệm sàng lọc đều ở mức nguy cơ thấp. Khi chuyển đến bệnh viện ở tuần 26, tình trạng đã ở mức nặng: Phổi phải gần như xẹp hoàn toàn, phổi trái xẹp một phần, trung thất bị đẩy lệch, nguy cơ cao dẫn đến thiểu sản phổi và suy hô hấp sau sinh.

Để điều trị, các bác sĩ tiến hành đặt shunt dẫn lưu màng phổi nhằm kiểm soát lượng dịch và giảm chèn ép. Sau can thiệp, shunt được duy trì trong cơ thể thai nhi và theo dõi định kỳ qua siêu âm trong suốt những tuần tiếp theo của thai kỳ. Kết quả cho thấy shunt nằm đúng vị trí, hoạt động ổn định, lượng dịch được kiểm soát, phổi có điều kiện phát triển trở lại, các chỉ số thai nhi duy trì trong giới hạn cho phép.

Một trường hợp trẻ được can thiệp bào thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 8/2025, hiện phát triển ổn định, sức khỏe tốt. Ảnh: BVCC

Một trường hợp trẻ được can thiệp bào thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 8/2025, hiện phát triển ổn định, sức khỏe tốt. Ảnh: BVCC

Thai kỳ được duy trì thêm từng tuần trong sự theo dõi sát sao của bác sĩ. Đến tuần 36, chị T xuất hiện cơn đau bụng chuyển dạ và nhập viện. Sau hội chẩn, các bác sĩ quyết định mổ lấy thai để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé. Trẻ sơ sinh nặng 2.600gr chào đời trong tình trạng ổn định, shunt được rút ngay sau sinh. Đồng thời, em bé được chuyển khoa Sơ sinh để tiếp tục theo dõi. Hiện trẻ đã xuất viện với tình trạng sức khỏe hoàn toàn ổn định.

Làm chủ kỹ thuật chuyên sâu, mở ra cơ hội sống cho thai nhi

Theo TS.BS Đinh Thúy Linh, Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, tràn dịch màng phổi thai nhi là tình trạng xuất hiện dịch trong khoang màng phổi ngay từ thời kỳ bào thai, trong khi bình thường khoang này không có dịch.

Lượng dịch tích tụ có thể chèn ép phổi, cản trở quá trình phát triển, dẫn đến thiểu sản phổi. Sau sinh, trẻ có nguy cơ suy hô hấp nặng. Trường hợp dịch nhiều còn gây chèn ép tim, dẫn đến suy tim thai, phù thai và nguy cơ thai lưu ngay trong tử cung.

TS.BS Đinh Thúy Linh cho biết, bệnh có thể xuất hiện ở nhiều giai đoạn của thai kỳ, trong đó thời điểm khởi phát có ý nghĩa quan trọng đối với tiên lượng. Nếu xuất hiện sớm, thời gian chèn ép kéo dài khi phổi chưa kịp trưởng thành, nguy cơ biến chứng sẽ cao hơn. Ngược lại, các trường hợp xuất hiện muộn thường có tiên lượng khả quan hơn.

“Trước đây, khi chưa có can thiệp bào thai, các trường hợp này chủ yếu được theo dõi. Khi xuất hiện dấu hiệu nguy hiểm và thai đủ điều kiện nuôi sống ngoài tử cung, bác sĩ buộc phải kết thúc thai kỳ để điều trị sơ sinh, tuy nhiên hiệu quả còn hạn chế.

Hiện nay, với kỹ thuật can thiệp bào thai, dù chưa thể điều trị triệt để nguyên nhân trong bào thai, nhưng giúp cải thiện điều kiện phát triển của thai nhi, giảm nguy cơ suy hô hấp sau sinh và tăng cơ hội sống cho trẻ”, TS.BS Đinh Thúy Linh thông tin.

TS.BS Đinh Thúy Linh, Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội siêu âm, chẩn đoán trước sinh cho thai phụ. Ảnh: BVCC

TS.BS Đinh Thúy Linh, Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội siêu âm, chẩn đoán trước sinh cho thai phụ. Ảnh: BVCC

Từ thực tế điều trị, các bác sĩ cho rằng, việc phát hiện sớm và can thiệp đúng thời điểm có ý nghĩa quyết định trong cải thiện tiên lượng. Nhiều trường hợp thai nhi nguy cơ cao đã có thể duy trì thai kỳ và chào đời an toàn hơn. Điều này cũng cho thấy xu hướng chuyển từ theo dõi bị động sang chủ động can thiệp đối với một số bệnh lý bào thai phù hợp, trong đó yêu cầu phối hợp liên chuyên khoa từ chẩn đoán trước sinh, can thiệp bào thai đến hồi sức sơ sinh giữ vai trò then chốt.

“Trong thời gian tới, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tiếp tục phát triển các kỹ thuật can thiệp bào thai, hướng tới xử trí một số dị tật bẩm sinh ngay trong tử cung. Để thực hiện mục tiêu trên, bệnh viện tập trung hoàn thiện quy trình hội chẩn liên chuyên khoa, đồng thời đẩy mạnh đào tạo nhân lực và tiếp nhận, chuyển giao kỹ thuật, qua đó từng bước nâng cao năng lực triển khai các kỹ thuật chuyên sâu và mở rộng cơ hội tiếp cận cho người bệnh”, TS.BS Đinh Thúy Linh khẳng định.

Thảo Hương

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/cuu-song-nhieu-thai-nhi-nguy-kich-nho-can-thiep-bao-thai-744391.html