Đà Nẵng xây dựng kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2030, định hướng đến 2050

Sáng 23/10, Sở Xây dựng TP Đà Nẵng tổ chức hội thảo tham vấn ý kiến Kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng TP Đà Nẵng đến năm 2030, định hướng đến năm 2050...

VLXD xanh góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư hạ tầng

Ông Đặng Khánh An, Trưởng phòng Quản lý chất lượng công trình, Sở Xây dựng Đà Nẵng cho biết, vật liệu xây dựng (VLXD) là yếu tố đầu vào quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chi phí, chất lượng công trình và gắn liền với yêu cầu quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

Ông Đặng Khánh An cho hay, việc xây dựng Kế hoạch phát triển VLXD TP Đà Nẵng đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 có ý nghĩa quan trọng, nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng, xác định tiềm năng và nguồn lực, dự báo nhu cầu, cân đối cung - cầu.

Ông Đặng Khánh An cho hay, việc xây dựng Kế hoạch phát triển VLXD TP Đà Nẵng đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 có ý nghĩa quan trọng, nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng, xác định tiềm năng và nguồn lực, dự báo nhu cầu, cân đối cung - cầu.

Trong bối cảnh TP Đà Nẵng mở rộng không gian phát triển, đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và các khu công nghiệp, nhu cầu về VLXD đặt ra những yêu cầu mới về quy mô cung ứng, chủng loại, chất lượng, công nghệ sản xuất và năng lực logistics. Bên cạnh đó, xu hướng phát triển xanh, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn đòi hỏi ngành VLXD phải từng bước đổi mới mô hình sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu và tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ.

"Việc xây dựng Kế hoạch phát triển VLXD TP Đà Nẵng đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 có ý nghĩa quan trọng, nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng, xác định tiềm năng và nguồn lực, dự báo nhu cầu, cân đối cung - cầu. Đồng thời đề xuất các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển phù hợp với điều kiện thực tế cũng như định hướng phát triển lâu dài, bền vững của TP Đà Nẵng", ông An nói.

Theo ông Đặng Khánh An, dự thảo kế hoạch đã tập trung nghiên cứu nhiều nội dung, từ đánh giá hiện trạng sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; nguồn tài nguyên khoáng sản và khả năng cung ứng; tác động của thị trường trong nước và khu vực; đến dự báo nhu cầu, định hướng phát triển các chủng loại vật liệu, giải pháp về công nghệ, môi trường, quản lý chất lượng, chuyển đổi số và tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, để kế hoạch thực sự có chất lượng, có tính khả thi và trở thành cơ sở phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, thu hút đầu tư và phát triển ngành VLXD cần ý kiến phân tích, đánh giá và đề xuất chuyên sâu của các chuyên gia về định hướng phát triển ngành VLXD trong giai đoạn tới. 

Chia sẻ tại hội thảo, PGS.TS Tạ Ngọc Dũng, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, tại Đà Nẵng, phát triển VLXD xanh, vật liệu không nung và bê tông ít phát thải có ý nghĩa đối với mục tiêu nâng cao hiệu quả đầu tư hạ tầng, sử dụng tài nguyên tiết kiệm và tăng khả năng chống chịu của công trình trước điều kiện khí hậu, môi trường ven biển.

Theo chuyên gia, Đà Nẵng cần tăng sử dụng VLXD xanh, VLXD không nung.

Theo chuyên gia, Đà Nẵng cần tăng sử dụng VLXD xanh, VLXD không nung.

Ông Dũng nhận định, chuyển đổi xanh trong xây dựng cần được triển khai đồng thời trên ba phương diện: cải tiến công nghệ sản xuất vật liệu; đổi mới thiết kế và phương thức sử dụng vật liệu; và tổ chức lại quá trình cung ứng, thi công, bảo trì, thu hồi và tái sử dụng vật liệu.

Đối với Đà Nẵng, yêu cầu này cần được xem xét trong mối liên hệ với phát triển mạng lưới giao thông, thoát nước, công trình công cộng, không gian đô thị, hạ tầng ven biển và các khu vực có điều kiện môi trường khác nhau.

Ông Dũng đưa ra một số tiềm năng của VLXD gồm: vật liệu xây không nung; chất kết dính và bê tông ít phát thải; cốt liệu tái chế và vật liệu từ hoạt động phá dỡ; cát nghiền. Ngoài ra, các lĩnh vực có thể áp dụng loại VLXD này như đường đô thị, vỉa hè và không gian công cộng; hệ thống thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật; công trình ven biển và môi trường có nguy cơ xâm thực; công trình công cộng và công trình sử dụng ngân sách.

Cần ứng dụng công nghệ số trong quản lý thị trường VLXD

Theo TS Thái Duy Sâm, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, TP Đà Nẵng đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt sau khi sáp nhập, giúp mở rộng không gian địa giới, tăng tài nguyên khoáng sản. 

"Do đó, việc nâng cao năng lực và với tinh thần hiệu quả quản lý nhà nước, kiểm soát chất lượng, bình ổn giá cả và ứng dụng công nghệ số (GIS, IOC) trong quản trị thị trường VLXD là cần thiết. Điều này nhằm thiết lập hành lang điều phối hiện đại, giải quyết dứt điểm các điểm nghẽn về đứt gãy chuỗi cung ứng, đầu cơ trượt giá, xung đột môi trường và tạo dựng thị trường VLXD vận hành minh bạch, hiệu quả, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững của địa phương", TS Sâm nói.

TS Thái Duy Sâm, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam nhận định, cần ứng dụng công nghệ số trong quản lý thị trường VLXD.

TS Thái Duy Sâm, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam nhận định, cần ứng dụng công nghệ số trong quản lý thị trường VLXD.

Theo ông Sâm, Đà Nẵng cần đổi mới thể chế và phương thức quản lý nhà nước. Cụ thể, phải đổi từ tư duy quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Nghĩa là thay vì can thiệp sâu bằng các thủ tục cấp phép hành chính rườm rà ban đầu (tiền kiểm), cơ quan quản lý chuyên môn chuyển tập trung nguồn lực sang công tác giám sát, kiểm định chuẩn hóa và xử lý vi phạm sau khi đưa sản phẩm ra thị trường (hậu kiểm). Phương thức này vừa giải phóng nguồn lực cho doanh nghiệp, vừa nâng cao trách nhiệm pháp lý của chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Ngoài ra, cần phân cấp, phân quyền toàn diện cho UBND TP trong việc rà soát, tích hợp quy hoạch khoáng sản làm VLXD trên không gian địa giới mới mở rộng; chủ động cân đối cung - cầu nội tại và điều tiết cung - cầu VLXD liên vùng; ban hành các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ tài chính và đất đai đối với các dự án sản xuất vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng và các cơ sở tái chế phế thải. Ngoài ra, TS Sâm cũng nêu thêm việc phải kiểm soát chất lượng theo 3 cấp độ rủi ro; quản lý tích hợp toàn bộ chuỗi giá trị và không gian hành chính mới.

TS Thái Duy Sâm cho hay, TP Đà Nẵng cần kiểm soát chất lượng, thúc đẩy vật liệu xanh và ứng dụng kinh tế tuần hoàn bằng việc thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 02 về vật liệu xây không nung (VLXKN). Cụ thể, 100% công trình đầu tư công và công trình sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách trên địa bàn bắt buộc phải sử dụng 100% VLXKN cho hệ thống tường xây và kết cấu bao che.

Công trình từ 9 tầng trở lên (không phân biệt nguồn vốn) bắt buộc phải sử dụng tối thiểu 80% VLXKN trong tổng số vật liệu xây (ưu tiên bê tông khí chưng áp AAC, tấm panel tường ALC, gạch bê tông mác cao) nhằm giảm tải trọng kết cấu và nâng cao hiệu quả cách nhiệt, chống nóng.

Cùng với sử dụng VLXKN, địa phương phải xóa bỏ dứt điểm lò gạch thủ công; chuẩn hóa công nghệ sản xuất cát nghiền nhân tạo và tái chế phế thải xây dựng theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Bình ổn giá cả và áp dụng cơ chế đặc thù cho các dự án hạ tầng trọng điểm bằng việc đổi mới công tác quản lý giá và phản ứng linh hoạt với thị trường. Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ (GIS, IOC) trong quản trị thị trường cần xây dựng Cơ sở dữ liệu số GIS quản lý cung - cầu theo thời gian thực.

Thanh Đức

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/da-nang-xay-dung-ke-hoach-phat-trien-vat-lieu-xay-dung-den-nam-2030-dinh-huong-den-2050-192261023090409753.htm