Đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ trách nhiệm đối với bếp ăn tập thể, giao đồ ăn trực tuyến
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn Hà Nội) đề nghị Luật hóa trách nhiệm, siết quản lý an toàn thực phẩm theo nguy cơ; làm rõ trách nhiệm đối với bếp ăn tập thể, giao đồ ăn trực tuyến.

Các đại biểu Quốc hội Đoàn thành phố Hà Nội thảo luận tại tổ chiều 24-10. Ảnh: Như Ý
Chiều 24-10, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ hai, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Luật hóa trách nhiệm, siết quản lý an toàn thực phẩm theo nguy cơ
Góp ý dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn Hà Nội) đề nghị quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; thống nhất công cụ quản lý, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và tăng cường hậu kiểm dựa trên mức độ nguy cơ, bảo đảm luật có thể triển khai hiệu quả ngay khi có hiệu lực.
Về công cụ quản lý an toàn thực phẩm, đại biểu đề nghị làm rõ hình thức, trình tự ban hành các quy định kỹ thuật mang tính bắt buộc; bảo đảm thống nhất giữa quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn tự nguyện về chất lượng và các biện pháp quản lý nguy cơ. Đồng thời, không yêu cầu cơ sở công bố cùng một thông tin theo nhiều thủ tục hoặc hệ thống phân loại, tránh chồng chéo và phát sinh chi phí tuân thủ.
Đối với bếp ăn tập thể tại trường học, bệnh viện, đại biểu nhấn mạnh cần xác định rõ trách nhiệm cuối cùng của đơn vị tổ chức bữa ăn, không để trách nhiệm bị chuyển giao hoàn toàn cho nhà cung cấp.

Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn Hà Nội) phát biểu thảo luận. Ảnh: Như Ý
Người đứng đầu trường học, bệnh viện cần chịu trách nhiệm về lựa chọn, giám sát nhà cung cấp; hợp đồng phải quy định cụ thể việc truy xuất nguyên liệu, lưu mẫu, kiểm thực, thông báo sự cố, phối hợp điều tra và bồi thường...
Với hoạt động giao đồ ăn trực tuyến, đại biểu đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm của nền tảng trong hiển thị thông tin cơ sở kinh doanh và tình trạng tuân thủ an toàn thực phẩm; lưu vết đơn hàng phục vụ điều tra ngộ độc; tiếp nhận cảnh báo, đình chỉ hiển thị đối với cơ sở có quyết định xử lý. Điều kiện vệ sinh, thời gian và nhiệt độ vận chuyển cũng cần được quy định phù hợp với từng loại thực phẩm, tránh tạo khoảng trống trong truy xuất và thu hồi sản phẩm.
Về hệ thống thông tin, dữ liệu an toàn thực phẩm, đại biểu đề nghị áp dụng nguyên tắc một lần khai báo, nhiều cơ quan khai thác; xây dựng mã định danh cơ sở và sản phẩm; quy định rõ trách nhiệm cập nhật, kiểm chứng, sửa sai.
Dữ liệu cần được phân loại thành dữ liệu công khai, dữ liệu phục vụ quản lý, dữ liệu cá nhân và bí mật kinh doanh; đồng thời cho phép tra cứu, cảnh báo nhanh theo lô sản phẩm. Theo đại biểu, hậu kiểm dựa trên dữ liệu chỉ hiệu quả khi thông tin chính xác, liên thông và có khả năng truy xuất.
Đối với thời hạn giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm là 3 năm và giấy đăng ký bản công bố sản phẩm là 5 năm theo dự thảo, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình bằng số liệu về hiệu quả, chi phí và năng lực xử lý hồ sơ. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế gia hạn đơn giản khi thông tin, điều kiện không thay đổi và cơ sở có lịch sử tuân thủ tốt, ưu tiên hậu kiểm theo nguy cơ thay vì lặp lại các thủ tục hình thức.
Để chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm thực chất, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế đánh giá nguy cơ độc lập về chuyên môn; công khai phương pháp phân loại, tiêu chí lựa chọn tần suất hậu kiểm; tăng cường kiểm tra đột xuất đối với nhóm có dấu hiệu rủi ro và công khai kết quả xử lý phù hợp. Việc giảm tiền kiểm không đồng nghĩa với giảm trách nhiệm quản lý nhà nước.
Về ứng phó ngộ độc thực phẩm, đại biểu đề nghị chuẩn hóa trách nhiệm trong những giờ đầu xảy ra sự cố, nhất là tại trường nội trú, bệnh viện và cơ sở cung cấp suất ăn số lượng lớn. Trong đó, cần xác định rõ đầu mối thông báo ngay cho cơ quan y tế và cơ quan quản lý an toàn thực phẩm; quy định cơ chế phong tỏa lô hàng, bảo toàn chứng cứ, cung cấp hồ sơ nguyên liệu và phối hợp điều trị. Kết quả điều tra, thu hồi cần được kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia.
Đề xuất bảo hiểm trách nhiệm an toàn thực phẩm bắt buộc
Thảo luận về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà đề xuất quy định bảo hiểm trách nhiệm an toàn thực phẩm bắt buộc đối với các cơ sở có nguy cơ cao; trao quyền ứng phó khẩn cấp cho lực lượng hậu kiểm và bảo đảm tính thống nhất giữa dự thảo Luật với các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô.

Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn Hà Nội) phát biểu thảo luận. Ảnh: Như Ý
Đại biểu đề nghị nghiên cứu quy định bảo hiểm trách nhiệm an toàn thực phẩm bắt buộc đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc danh mục nguy cơ cao, cơ sở sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống quy mô lớn, bao gồm bếp ăn tập thể trường học, khu công nghiệp và cơ sở chế biến suất ăn sẵn. Chính phủ sẽ quy định cụ thể điều kiện, mức phí, mức trách nhiệm bảo hiểm và lộ trình thực hiện.
Đại biểu đề nghị bổ sung quy định cho phép cơ quan quản lý an toàn thực phẩm, trưởng đoàn kiểm tra phong tỏa, tạm ngừng lưu thông lô thực phẩm, tạm đình chỉ hoạt động cơ sở và công khai cảnh báo sớm trong thời hạn không quá 72 giờ khi phát hiện dấu hiệu nguy cơ cao hoặc có bằng chứng dịch tễ, lâm sàng ban đầu.
Đồng thời, cần có cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm bồi thường đối với người thi hành công vụ nếu thực hiện đúng thẩm quyền, quy trình, không tư lợi nhưng kết quả kiểm nghiệm sau đó không phát hiện vi phạm do yếu tố kỹ thuật, khoa học khách quan.
Góp ý về mối quan hệ giữa dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và Luật Thủ đô, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cho rằng cần quy định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật để tránh làm suy giảm hiệu lực các cơ chế đặc thù đã được Quốc hội trao cho Hà Nội.
Theo đại biểu, Luật Thủ đô quy định các cơ chế riêng về đầu tư nguồn lực quản lý an toàn thực phẩm, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt cao hơn nhưng không quá hai lần mức phạt chung của Chính phủ, cũng như liên kết vùng trong kiểm soát chất lượng, an toàn nông sản, thực phẩm cung ứng cho Thủ đô.
Để khắc phục, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 3 quy định bảo đảm các cơ chế đặc thù về quản lý an toàn thực phẩm tại Hà Nội được thực hiện theo Luật Thủ đô; sửa khoản 3 Điều 58 theo hướng loại trừ trường hợp Luật Thủ đô có quy định khác về xử phạt vi phạm hành chính; đồng thời bổ sung tại điểm n khoản 1 Điều 71 quy định riêng về việc thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền quản lý an toàn thực phẩm của thành phố Hà Nội theo Luật Thủ đô và Luật An toàn thực phẩm.
Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm thực chất
Góp ý dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Hồng Chương đề nghị phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các bộ, ngành; rà soát tính thống nhất với các luật liên quan và hoàn thiện quy định theo hướng thực chất chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Các đại biểu Quốc hội Đoàn thành phố Hà Nội thảo luận tại tổ. Ảnh: Xuân Quý
Đại biểu Nguyễn Hồng Chương tán thành việc xác định Bộ Y tế là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị không thiết kế một chương riêng về quản lý nhà nước như Chương VIII của dự thảo, mà quy định trong một điều về trách nhiệm của Chính phủ, cơ quan đầu mối và UBND các cấp; giao Chính phủ quy định cụ thể quyền hạn của từng bộ, ngành để bảo đảm linh hoạt.
Đại biểu cũng đề nghị rà soát các luật liên quan để bảo đảm tính thống nhất, trong đó có Bộ luật Hình sự và Luật Quảng cáo. Dự thảo cần làm rõ khái niệm, hành vi liên quan đến thực phẩm giả và việc sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc bị tiêu hủy làm thực phẩm, tránh thiếu căn cứ trong xử lý vi phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đại biểu tán thành chủ trương chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, nhưng cho rằng một số quy định của dự thảo chưa thể hiện nhất quán tinh thần này. Cụ thể, quy định chỉ được lưu thông sản phẩm sau khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ công bố có thể biến việc tiếp nhận hồ sơ thành điều kiện lưu thông, làm phát sinh cơ chế tiền kiểm.

