Đại Nguyên Soái Minh Vương Atavaka: Từ Phật thoại đến tín ngưỡng

NSGN - Đại Nguyên Soái Minh Vương (Phạn, Pāli: Alavaka/Atavaka; Nhật Bản: Daigensui Myo-o ; Hán âm: A-tra-bà-câu, A-tra-bạc-câu; còn gọi: Thái Nguyên Soái Minh Vương, Quỷ thần đại tướng, Khoáng dã thần) là một nhân vật nổi tiếng trong Phật giáo.

Ngài là một dạ-xoa/yaksa, một trong 16 đại tướng dạ-xoa và được coi như là một vị Minh Vương trong truyền thống Mật tông. Vị thần giữ gìn đất nước, tiêu diệt các chướng nạn cho chúng sinh như: ác thú, nước lửa, binh đao(1). Đây là thủ lĩnh của các Minh Vương và là một trong tám đại đệ tử của Tỳ-sa-môn Thiên vương, một vị thần cổ của Ấn giáo được Phật giáo thu nhận làm Hộ pháp (Dharmapala). Dường như thần không được thờ phượng ở Ấn Độ và ở Trung Hoa, mặc dù từng được biểu thị cùng với Hariti trong một số phù điêu (đặc biệt ở Ajanta, Ấn Độ và Trung Quốc). Việc thờ phượng thần được du nhập vào Nhật Bản bởi nhà sư Ogurusu Jogyo thuộc Chân Ngôn tông vào khoảng thế kỷ IX(2).

Daigensui Myoo

Daigensui Myoo

1. Câu chuyện về nguồn gốc

- Giới thiệu

Ở phía Bắc lưu vực sông Hằng cách đền thờ trời Na-la-diên hơn 30 dặm về phía Đông, có ngôi tháp, tương truyền là di tích còn sót lại nơi Phật hàng phục Đại Nguyên Soái Minh Vương(3). Kinh điển Pāli ghi lại câu chuyện về Atavaka như sau(4):

Vào thời Đức Phật còn tại thế, Atavaka là một dạ-xoa ăn thịt người, sống sâu trong khu rừng Atavi. Một ngày nọ, nhà vua Atavi đi săn trong rừng. Trên đường trở về cung điện, ông đi ngang qua bên dưới một cây đa lớn nơi Atavaka cư ngụ. Dạ-xoa được Tỳ-sa-môn Thiên vương (Vaisravana) cho phép bắt và ăn thịt bất kỳ ai đến gần nơi ở của mình. Để đổi lấy mạng sống, nhà vua cùng với các sứ thần và vị tể tướng Nagaraguttika hứa sẽ cung cấp cho dạ-xoa xác của những phạm nhân để làm thức ăn.

Một trong số những quyền năng của Atavaka, đó là khi một người nào đó chỉ cần liếc nhìn thấy dạ-xoa thì cơ thể có thể mềm nhũn ra như bơ. Cuối cùng, do hết các phạm nhân, mỗi hộ gia đình trong các nơi lân cận buộc phải hiến tế một đứa trẻ để thỏa mãn dạ-xoa. Những bà bầu đã bỏ trốn khỏi kinh đô cho đến 12 năm sau, khi đứa trẻ duy nhất còn lại chính là người con trai của nhà vua tên là Atavaka Kumara. Nhà vua đã mặc quần áo cho con trai mình để chuẩn bị hiến tế. Khi đó Đức Phật đã sử dụng thiên nhãn thông của Ngài, và khi nhìn thấy kết quả tiềm tàng của tình huống này đã vội vàng đi đến hang ổ của dạ-xoa.

- Đối đầu

Trong khi Atavaka đang cùng hội họp với một nhóm dạ-xoa ở dãy Himalaya, Đức Phật được người gác cổng Gadrabha chào đón. Gadrabha cảnh báo Đức Phật về bản chất dữ tợn của dạ-xoa, nhưng Đức Phật không sợ hãi mà bước vào nơi cư ngụ của Atavaka và ngồi trên ngai vàng của dạ-xoa.

Gadrabha đã đi đến dãy Himalaya để thông báo cho Atavaka những gì đã diễn ra. Trong khi đó, Đức Phật đang giảng Pháp cho các nữ nhân của Atavaka. Dạ-xoa Satagiri và Haimavata cũng đang trên đường đến hội chúng nơi dãy Himalaya và nhận ra sự hiện diện của Đức Phật. Vì họ không thể bay một cách trực tiếp bên trên Ngài, nên họ đã phải bay xuống bên dưới để đảnh lễ Đức Phật trước khi tiếp tục hành trình.

Khi Atavaka nghe từ Gadrabha, Satagiri và Haimavata nói về sự hiện diện của Đức Phật, Atavaka đặt chân trái lên Manosilatala và chân phải lên Kelasakuta, cả hai đều là những địa điểm trên dãy Himalaya, điều này cho thấy dạ-xoa có một kích thước khổng lồ. Atavaka hét lớn tên của mình và vội vã trở về cung điện. Mặc dù có nhiều quyền năng siêu nhiên khác nhau, Atavaka vẫn không thể đánh bật Đức Phật khỏi ngai. Ngay cả vũ khí tối thượng của dạ-xoa, tấm vải dussavudha, một trong bốn vũ khí quyền năng nhất trên thế giới, cũng không có tác dụng gì. Khi Atavaka ném mạnh nó, nó chỉ rơi xuống dưới chân Đức Phật như một tấm chăn.

- Câu hỏi của Atavaka

Cuối cùng Atavaka đã thỉnh cầu Đức Phật rời đi. Đức Phật đã làm theo. Sau đó, dạ-xoa triệu hồi Đức Phật quay trở lại, và Đức Phật đã làm như vậy. Đức Phật đi đi lại lại theo lệnh của Atavaka cho đến lần thứ tư thì Ngài từ chối việc tuân thủ.

Atavaka đã đưa ra một loạt những câu hỏi cho Đức Phật, tuyên bố rằng nếu Ngài không thể trả lời, Atavaka sẽ chiếm hữu tâm trí của Ngài, xé toạc trái tim của Ngài, hoặc ném Ngài bằng chân qua sông Hằng. Mặc dù có tổng cộng 13 câu hỏi, nhưng chúng thường được nhóm lại thành tám câu hỏi. Theo dạng thức những câu hỏi và câu trả lời, những câu hỏi như sau:

(1) Tài sản lớn nhất của một người là gì?

Niềm tin là tài sản lớn nhất của con người.

(2) Điều gì khi thực hành tốt sẽ mang lại hạnh phúc?

Pháp, khi thực hành tốt, sẽ mang lại hạnh phúc.

(3) Hương vị nào là cao nhất?

Sự thật là hương vị cao nhất.

(4) Sống theo cách nào thì cuộc sống của một người được cho là tốt nhất?

Sống với sự sáng suốt, cuộc sống của một người được cho là tốt nhất.

(5) Làm thế nào để vượt qua cơn lũ?

Nhờ có niềm tin, con người ta vượt qua được cơn lũ.

(6) Làm thế nào để vượt biển?

Nhờ sự chú tâm, con người ta có thể vượt qua biển cả.

(7) Làm thế nào để vượt qua đau khổ và căng thẳng?

Nhờ sự kiên trì, con người ta có thể vượt qua đau khổ và căng thẳng.

(8) Con người được thanh lọc như thế nào?

Nhờ sự sáng suốt, con người được thanh lọc.

(9) Làm thế nào để đạt được sự sáng suốt?

Tin vào lời dạy của các vị A-la-hán để đạt được sự giải thoát. Với chú ý và quán sát, người lắng nghe kỹ sẽ đạt được sự sáng suốt.

(10) Làm thế nào để tìm được sự giàu có?

Làm điều đúng đắn, chịu đựng gánh nặng, người có sáng kiến ​​sẽ tìm thấy sự giàu có.

(11) Làm thế nào để có được danh dự?

Nhờ sự thật mà con người ta có được danh dự.

(12) Làm thế nào để gắn kết bạn bè với mình?

Sự cho đi gắn kết bạn bè với chính mình.

(13) Khi rời thế giới này sang thế giới bên kia, làm sao con người ta không đau buồn?

Được phú cho bốn phẩm chất này - sự thật, tự chủ, sức chịu đựng, sự từ bỏ - một gia chủ có niềm tin, khi qua đời, không đau buồn(5).

Tranh tường Khmer, câu hỏi của Atavaka, chùa Xoài Xiêm cũ, tỉnh Vĩnh Long

Tranh tường Khmer, câu hỏi của Atavaka, chùa Xoài Xiêm cũ, tỉnh Vĩnh Long

- Chuyển biến

Sau khi những câu hỏi của Atavaka được giải đáp, dạ-xoa kinh ngạc trước trí tuệ của Đức Phật và đã trở thành một Dự lưu (Srotapanna). Chú giải Kinh Tập (Sutta Nipata Atthakatha) viết bằng tiếng Pāli cho rằng cha mẹ của Atavaka đã hỏi những câu hỏi này và cổ Phật Ca Diếp (Kasyapa) đã trả lời và họ đã dạy chúng cho người con trai Atavaka. Atavaka đã viết chúng trên một lá vàng với sơn đỏ để lưu giữ trong cung điện của dạ-xoa. Những câu trả lời mà Đức Phật đưa ra giống hệt với những câu trả lời mà cổ Phật Ca Diếp (Kasyapa) trả lời.

Vào lúc rạng sáng, người của nhà vua đến cùng với vị hoàng tử trẻ chuẩn bị hiến tế làm thức ăn cho Atavaka. Họ nghe thấy dạ-xoa hét lên vui mừng khi nghe những lời giải của Đức Phật. Khi họ dâng cậu bé cho dạ-xoa, dạ-xoa đã trao cậu bé cho Đức Phật. Đức Phật ban phước cho cậu bé và trao cậu bé lại cho người của nhà vua. Cậu bé này sau đó được gọi là Hastaka Atavaka, người đã trở thành một trong những đệ tử tại gia hàng đầu của Đức Phật.

Sau khi biết tin dạ-xoa đã cải tà quy chính, nhà vua và người dân thành Atavi đã xây cho dạ-xoa một dinh thự đặc biệt, nơi họ dâng tặng cho dạ-xoa những món quà như hoa, hương và nhiều thứ khác(6).

Daigensui Myoo, chùa Akishinodera, Nara, Nhật Bản

Daigensui Myoo, chùa Akishinodera, Nara, Nhật Bản

2. Phật giáo Đại thừa

Truyền thống Đại thừa thừa nhận Atavaka như là một vị Minh Vương và là một trong tám đại tướng dạ-xoa của Tỳ-sa-môn Thiên vương. Một danh hiệu phổ biến là Atavaka Mahayaksasenapati (nghĩa đen là Đại tướng dạ-xoa Atavaka).

Hình tượng của Atavaka rất đa dạng. Hình tượng của ngài chủ yếu được thể hiện trong tranh ảnh và trong các mạn-đà-la, hiếm khi qua điêu khắc. Atavaka thường có sắc màu lam, đen hoặc đỏ. Atavaka có khuôn mặt phẫn nộ và cơ thể được bao phủ bởi ngọn lửa, đặc điểm chung với các vị Minh Vương khác. Đôi khi Atavaka được thể hiện với những con rắn Naga quấn quanh tay và chân. Ngài có hai biểu hiện chính:

Ngồi trên những yêu ma, với ba hoặc bốn đầu và sáu hoặc tám tay, những tay chính trong thế Hợp chưởng ấn/ấn cúng dường, những tay phải cầm kiếm, kim cương chử, ngọc như ý, quyền trượng. Những tay trái cầm đinh ba hoặc gậy thúc voi, một pháp luân và một sợi dây.

Đứng giữa những ngọn lửa, một chân đạp lên yêu ma, chân kia giơ lên, với ba đầu và sáu tay hoặc tám tay. Đầu bên trái dữ tợn, đầu giữa bình thản, với đôi môi mím vào nhau. Đôi mắt của đầu bên phải màu vàng.

Đôi khi ngài cũng được thể hiện với một đầu và sáu tay, một đầu và bốn tay, hoặc một đầu và hai tay, hay bốn đầu và tám tay, hoặc sáu đầu và tám tay, hoặc 18 đầu và 36 tay…(7).

- Nhật Bản

Đại Nguyên Soái Minh Vương Daigensui Myoo được tôn kính như một vị thần bảo vệ đất nước khỏi kẻ thù bên ngoài cũng như thiên tai. Vị Minh Vương này, hình như không còn được thờ phụng nữa, ngoại trừ có lẽ tại Daigo-ji ở Kyoto, còn hầu như thế nhân chẳng còn mấy ai biết đến(8).

Ngoài ra, một vị Tăng Nhật Bản tên Thường Hiểu đến Trung Quốc vào đời Đường, sau khi thọ pháp với ngài Nguyên Chiếu ở chùa Hoa Lâm, sư trở về Nhật Bản hoằng truyền bí pháp này để gìn giữ quốc gia, gọi là Đại Nguyên Soái Pháp. Sư rất được các nhà Thai Mật (Mật giáo do tông Thiên Thai ở Nhật Bản truyền) Nhật Bản quý trọng(9).

Vào thời cổ đại, triều đình hoàng gia Nhật Bản đã cử hành một buổi lễ từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 14 của tháng đầu tiên được gọi là Taigen[sui] no ho (nghĩa đen là Luật của Atavaka) để xua đuổi tai họa. Dưới đây là danh sách không đầy đủ các ngôi chùa và đền thờ nơi Daigensui Myoo được thờ phụng:

- Akishino-dera ở tỉnh Nara

- Risho-in, ngôi chùa phụ của Daigo-ji ở Kyoto

- Daigen-do tại Đông Tự/To-ji ở Kyoto

- Kyozen-ji ở Osaka

- Jiko-in ở tỉnh Toyama

- Tamura Jinja ở tỉnh Fukushima

- Chân ngôn

Một số thực hành tu tập Mật tông nằm trong phạm vi quyền hạn của Atavaka và bao gồm một số chân ngôn như sau(10):

Chân ngôn:

- Namo tarih taburih bhara burih sakyame sakyame trasaddham uyamvi svaha.

Những chân ngôn bảo hộ:

- Duru mi, duru mi, dhami dhami, dhuru mi, dhuru mi, dhuru mi, dhuru mi, duru mili, nili nili nili, nala nala nala, nili nili nili nili, nalanupulini, duluchanam dulichanam, kutanam kutanam, maha-kutanam kutanam, tatanam maha-tatanam, tatanam, tata tata, maha-tata tata, abhi abhi, maha-abhi, abhili abhili, maha-abhili abhili, apa-abhi apa-abhi apa-abhi, lusi lusi maha-lusi lusi, lini lini maha-lini, sulu sulu maha-sulu sulu, kulu kulu maha-kulu kulu, lukumu lukumu lukumu lukumu, kuma kuma kuma kuma, sili sili sili sili, iti iti iti iti, viti viti viti viti, hala hala hala hala, sini sini sini sini, sune sune sune sune, hini hini hini hini, hana hana hana hana, mai mai mani mai, maha-mani mani, sala sala sala sala, sri kuru, akarsa, sina sina sina sina, mosa bhana moksaka dhuka muni, kamala kamala kamala, jaktitaja, sama dhama sama dhama, yama dhama yama dhama, sama mukta miti, nabhala dhuna me, purusa dhama muni, nabhi dhuna me, tuja dhuta muni, nabhi dhuna me, svaha.

- Aksa aksa, mani mani, maha-mani mani, anunisusu, maha-nagasusu, duhkhanaci aho, akhanati atanati, ata ata ata, nata nata, ludu ludu ludu, susu dulu, sini sini sini sini, ukuma kuma kuma kuma, sili sili sili silini, nili nili maha-nili, svaha.

Chân ngôn phòng thủ chống lại cái xấu ác:

- Lumo lumo, luma luma luma, sili sili sili sili sili, kuna kuna kuna kuna kuna kuna, kuno kuno kuno, kulu kulu kulu kulu, sulu sulu sulu sulu sulu, sili musu, musili musili musili musili, sumo sumo śumo, suma sumiti, mamise, ma atikala, mitu, svaha.

Kinh Atavaka Dharani (T.1238) chứa nhiều đà-la-ni/chân ngôn cũng như nhiều ấn/triện (印, bính âm: yìn) và bùa hộ mệnh (符, bính âm: ) phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau.

Daigensui Myoo, chùa Jikoh-in, Toyama, Nhật Bản

Daigensui Myoo, chùa Jikoh-in, Toyama, Nhật Bản

3. Đặc điểm

Tiếng hét mà Atavaka la lên trước khi đối mặt với Đức Phật được truyền thống cho là một trong bốn tiếng hét được nghe thấy trên khắp cõi Diêm-phù-đề (Jambudvipa). Vũ khí của Atavaka, chiếc y dussavudha, cũng được biết đến là một trong bốn vũ khí quyền năng nhất trên thế giới. Nếu Atavaka ném nó lên trời, sẽ không có mưa trong 12 năm; nếu Atavaka để nó rơi xuống đất, tất cả thực vật và cây cối sẽ chết và không có gì có thể phát triển trong 12 năm; nếu Atavaka ném nó xuống biển, biển sẽ khô cạn hoàn toàn; nó có thể khiến núi Tu-di (Sineru) vỡ vụn thành từng mảnh. Những vũ khí khác là:

- Kim cương chử (vajra) của Đế-thích thiên (Sakra).

- Gậy (gadavudha) của Tỳ-sa-môn Thiên vương (Vaisravana).

Con mắt (nayanavudha) của Diêm-ma thiên (Yama).

Atavaka cũng được liệt kê trong số các dạ-xoa trong kinh Á-sá-năng-chí (Atanatiya Sutta) để các Phật tử cầu xin sự bảo vệ.

4. Chủ đề văn học

Giáo sư Kaigyoku Watanabe đã nhận định câu chuyện về Atavaka thuộc thể loại truyện Kalmasapada, trong đó có ba chủ đề chính là trung tâm:

- Một chằn dạ-xoa ăn thịt người

- Một vị vua tự cứu mình bằng cách đặc ân cho dạ-xoa

- Sự chuyển hóa của dạ-xoa

Đại Nguyên Soái Minh Vương là đối tượng hiếm thấy trong các tự viện ở xứ ta, ngoại trừ tranh tường ở các chùa tháp Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên với một phổ liên hệ bao quát hơn, chúng ta cũng có thể thấy các phiên bản của vị dạ-xoa Minh Vương này ở các hình tượng thần kỳ trong truyện cổ dân gian. “Nhân vật” chằn tinh trong truyện Thạch Sanh - Lý Thông là một ví dụ. Các ác thần, yêu tinh dưới lốt người hay xà tinh, hồ tinh, mộc tinh, ngư tinh… đòi dân chúng nộp mạng người để ăn thịt hàng năm là những ví dụ khác.

--------------------

(1)Thích Minh Cảnh chủ biên, Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 3: Đ, E, GI; tr.2108.

(2)Louis Frederic (2005), Tranh tượng & thần phổ Phật giáo, NXB.Mỹ Thuật, tr.334.

(3)Thích Minh Cảnh chủ biên, Sđd.

(4)Theo:

“Alavaka (Sutta)”, Buddhist Dictionary of Pāli Proper Name.

[https://www.palikanon.com/english/pali_names/aa/aalavaka.htm].

“Atavaka, aka: Atavaka”, Wisdom Library.

[https://www.wisdomlib.org/definition/atavaka].

(5)Thanissaro Bhikkhu, Alavaka Sutta (SN 10:12), dhammtalks.org.

[https://www.dhammatalks.org/suttas/SN/SN10_12.html].

(6)Xem thêm:

Orzech, Charles; Sørensen, Henrik; Payne, Richard (2010); Esoteric Buddhism and the Tantras in East Asia (Handbook of Oriental Studies. Section 4 China), BRILL xb.

Bentor, Yael; Shahar, Meir (2017); Chinese and Tibetan Esoteric Buddhism (Studies on East Asian Religions, BRILL xb.

Katz, Paul R. (1995); Demon Hordes and Burning Boats: The Cult of Marshal Wen in Late Imperial Chekiang, SUNY xb, tr.79-80.

(7)Louis Frederic (2005), Sđd.

(8)Louis Frederic (2005), Sđd.

(9)Thích Minh Cảnh chủ biên, Sđd.

(10)Davidson, R. (2014), “Studies in dharani literature II: Pragmatics of dharanis”, Bulletin of the School of Oriental and African Studies (Tạp chí của Trường Nghiên cứu về phương Đông và châu Phi), 77 (1): 5-61.

NSGN 364

Huỳnh Thanh Bình/Nguyệt san Giác Ngộ

Nguồn Giác ngộ: https://giacngo.vn/dai-nguyen-soai-minh-vuong-atavaka-tu-phat-thoai-den-tin-nguong-post80610.html