Đại tá - Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý:Thơ không bao giờ cũ khi đã chạm vào lòng người
ĐNCT - Có lần ngồi cùng anh em văn chương của Tạp chí Văn nghệ quân đội - nơi nhà thơ Nguyễn Hữu Quý từng công tác, mọi người bảo anh có hai thứ chẳng bao giờ thay đổi là nét buồn và tính lành. Hai điều ấy như vận cả từ đời thực vào thơ của anh.

Đại tá - Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý thăm cầu Hiền Lương. Ảnh: NVCC
Đại tá - Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý là một người thơ hiền. Hầu hết bạn văn khi nhận xét về anh đều đánh giá vậy. Quãng đời sống với văn chương của anh luôn khiến ai có dịp tiếp xúc đều trân quý anh.
Vị đại tá hiền lành của làng văn
Bạn bè văn chương nói anh là người thơ của Trường Sơn. Nhưng, nếu chỉ gọi thế thì thiếu quá!
Càng đọc thơ anh, lại càng thấy Nguyễn Hữu Quý còn là người của sông Gianh, của Thành cổ, của biển đảo và của những gì liên quan đến người lính. Tấc lòng của anh gửi vào trang viết miệt mài một tình cảm không chỉ dành cho quê xứ mà còn dành cho những người lính đã nằm xuống để yên bình về trên khắp dải đất hình chữ S này.
Cho đến bây giờ, đã 70 tuổi đời, ngòi bút của anh vẫn còn nặng nợ với mảng đề tài này. Nhìn những chuyến đi gần đây của anh về các nghĩa trang liệt sĩ, các địa chỉ cách mạng ngày xưa, bất giác gợi lên trong tôi hình ảnh một vị Đại tá đi qua chiến tranh bằng đôi chân người lính, và đi qua hòa bình bằng ngòi bút của một người giữ lửa.
Chia sẻ về nhà thơ đàn anh của mình, nhà văn Phùng Văn Khai - hiện là Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội cho rằng, sau lứa nhà thơ chống Mỹ, cứu nước như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Thanh Thảo, Vương Trọng... thì Nguyễn Hữu Quý là một tên tuổi xứng đáng và đã đảm đương rất tốt vị trí tốp đầu các nhà thơ viết về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng.
Trong ấn tượng của Đại tá Phùng Văn Khai, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý còn có tài đọc thơ và dẫn chương trình vô cùng duyên dáng với chất giọng Quảng Bình nồng nàn da diết không lẫn được vào đâu.
Các chuyến đi cùng anh em nhà số 4 thời còn công tác cũng khiến nhiều người thích thú, chuyến nào mà thiếu Nguyễn Hữu Quý thì nhạt hẳn. Bởi anh luôn là “tấm bia” cho nhóm đàn em như Phùng Văn Khai, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Thế Hùng trêu ghẹo.
Nhưng cũng chính Nguyễn Hữu Quý sẽ sẵn sàng “có ý kiến thẳng” với thủ trưởng trong yêu cầu quyền lợi trước mắt và lâu dài cho anh em. Anh hiền lành, hòa đồng, vui đùa tếu táo nhưng cũng cương trực. Sau tất cả “ý kiến quyền lợi” ấy, thực ra anh có thụ hưởng gì đâu, chỉ cốt là để anh em được bảo đảm quyền lợi, yên tâm công tác.
Nguyễn Hữu Quý đi nhiều và viết nhanh. Trong thế hệ các nhà văn ở Tạp chí Văn nghệ quân đội ngày ấy thì anh là người luôn xông pha.
Dẫu trong đêm tối, nhưng có tin người chiến sĩ biên phòng đánh án ma túy hoặc cứu dân trong bão lũ hy sinh, Nguyễn Hữu Quý lại lập tức lên đường tới những nơi xa xôi heo hút nhất để viết về chiến sĩ thời bình.
Nguyễn Hữu Quý thuộc tạng văn nhân ứng với thơ mình, cách anh sống như chính hai câu thơ trong bài Ru mẹ của anh: “Nhân từ bồi đắp phù sa/ con sông từ mẹ chảy ra cuộc đời”.
Gió Lào thổi lắm thành tem bảo hành
Cuối tháng 3/2026, tôi gặp anh ở Hà Nội trong một dịp trao giải của cuộc thi thơ Xuân Mới, lẫn trong rất nhiều văn nhân trẩy hội cuối xuân ấy, Nguyễn Hữu Quý gầy gò, dáng người chịu thương chịu khó, nét mặt vẫn rười rượi buồn. Đến cả khi anh cười, nụ cười ấy cũng phảng phất một vẻ dịu vợi da diết.
Đôi mắt anh hằn những dấu chim di cùng quãng đời lăn lộn với nghề báo và đi dọc các chiến trường xưa, tìm về nhiều chiến tích lịch sử, đôi mắt vẫn cứ thẳm xa một ánh nhìn hun hút.
Cơ bản tôi thấy anh giống hệt 2 câu thơ đã làm nên căn cước cho chính mình: “Thóc gầy trông mãi thành quen/ Gió Lào thổi lắm thành tem bảo hành”. Chính hai câu thơ đó của anh, miêu tả gần như trọn vẹn cuộc người và cuộc thơ của anh.
Cho đến bây giờ, Nguyễn Hữu Quý đã có hơn 25 đầu sách được in ấn, đa dạng nhiều thể loại. Đặc biệt 3 cuốn trường ca làm nên tên tuổi anh: Sinh ở cuối dòng sông (2003), Vạn lý Trường Sơn (2009) và Hạ thủy những giấc mơ (2013), đều đoạt giải thưởng của Bộ Quốc phòng.
Viết trường ca đòi hỏi bút lực rất dồi dào, phải có sức bền và hơn hết là ý chí sáng tạo phải ở một tầng thượng thừa nào đó. Đời thơ của một người, đôi khi chẳng có lấy một trường ca chứ nói gì là 3 lần liên tiếp gặt hái thành công trong giải thưởng uy tín của Bộ Quốc phòng.
Vậy nên, sau cú “hat-trick” ấy, người trong nghề bảo anh là hiện tượng “trường ca” hiếm có của thơ quân đội sau 1975.

Đại tá - Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý viếng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Ảnh: NVCC
Nhưng, để hiểu vì sao một người thơ cả đời sáng tạo gắn với mảng đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân thì phải nhắc đến một ký ức buồn của vị đại tá này. Năm 1968, khi Nguyễn Hữu Quý mới 12 tuổi, mẹ anh mất trong lần đế quốc Mỹ dội bom xuống làng. Đó chính là một nỗi buồn để khởi phát cho chặng đời luôn mang sự đau đáu của khát vọng đem vần thơ hong ấm lại nỗi đau từ cuộc chiến.
Nguyễn Hữu Quý lớn lên khi đất nước vẫn còn chiến tranh với nhiều nỗi nhọc nhằn gian lao. Anh đi vào cuộc chiến ngay trên cung đường Quảng Trị đầy ác liệt. Hòa bình rồi, nhưng nỗi đau vẫn còn hiện hữu rất nhiều trong tâm trí của người ở lại. Bởi có những người trẻ ngày ấy đi chẳng thể về, nằm lại chưa thể xác định danh tính. Dọc dài đất nước, hàng trăm ngàn mộ bia liệt sĩ vẫn chờ ngày quy hồi cố xứ, cũng ngần ấy gia đình đón đợi tin những liệt sĩ con em mình.
“Mười nghìn đôi vai từng gánh Trường Sơn/ Mười nghìn đôi tay mở rừng, xẻ núi/ Mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn/ Mười nghìn lời ca trong bài ca lớn/ Mười nghìn cái tên trong đêm đêm mẹ nhắc/ Mười nghìn giấc mơ của mẹ chờ ta/ Mười nghìn tấm bia còn mười nghìn nữa/ Mười nghìn khát vọng được về bên nhau!”.
Đoạn trích trong bài thơ Khát vọng Trường Sơn nổi tiếng của Nguyễn Hữu Quý đã cho thấy thơ anh như thể tiếng lòng của một người lính không muốn quên. Bởi quên sao được khi với anh đó không phải đề tài. Đó là máu thịt.
Dạo gần đây, Nguyễn Hữu Quý dường như tìm thêm được cho mình một “tem bảo hành” mới trên hành trình văn chương, đó là mảng đề tài thiếu nhi. Khi về hưu, anh chuyển về sống ở Cam Lộ nên gần những đứa cháu nội, cháu ngoại của mình. Từ góc quan sát hằng ngày, anh đã cho ra đời thêm nhiều ấn phẩm trong trẻo, hồn nhiên của lứa tuổi này như Hương rừng thơm đồi vắng, Trong lời mẹ ru, Nếu chúng mình có phép lạ…
Nguyễn Hữu Quý nhìn trẻ con bây giờ bằng lăng kính hiện đại hơn. Ngày xưa chúng ta không thể có tầm nhìn và những thao tác về công nghệ như bọn trẻ bây giờ. Anh cũng đọc một số bài thơ thiếu nhi được đăng trên các báo và thấy rằng người viết hiểu chưa đúng lắm, nhìn chưa đúng lắm về sự hồn nhiên của các bạn nhỏ hiện nay.
Những đứa trẻ của thời đại 4.0 rất khác so với những đứa trẻ trong ký ức. Thiếu nhi trong thời đại số rất khác với thiếu nhi thời chỉ chơi những trò chơi dân gian. Dù sự hồn nhiên của trẻ thơ vẫn như thế, nhưng góc nhìn, tri thức, cảm xúc của tụi nhỏ đều đã rất khác rồi. Tuy vậy anh vẫn chú trọng đến giá trị nhân văn, tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, về lòng tốt, sự tử tế…
Với Đại tá - Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý, chỉ cần sống và viết trọn vẹn cảm xúc của trái tim mình, thì công chúng vẫn luôn yêu quý tác phẩm, bởi thơ không bao giờ cũ khi đã chạm vào lòng người.
Nguyễn Hữu Quý sinh ngày 14/4/1956, ở làng Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình nay thuộc xã Bắc Trạch, tỉnh Quảng Trị. Tháng 6/1974, vừa tròn 18, Nguyễn Hữu Quý nhập ngũ, công tác ở Đoàn 559, thuộc Binh đoàn Trường Sơn.
Năm 1987 ông tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp Huế, khoa Ngữ văn. Rồi 20 năm trời, từ 1997 đến 2017, ông gắn bó với ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế. Từ một biên tập viên trẻ, ông lên vị trí Trưởng ban Thơ và nghỉ hưu vào tháng 7/2017. Hiện nay ông về sống ở Cam Lộ cùng gia đình.

