Đánh thức nguồn lực 4,5 triệu tỷ đồng trong doanh nghiệp nhà nước

Nắm giữ tổng khối tài sản khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, nhưng nhiều doanh nghiệp nhà nước chưa phát huy đầy đủ hiệu quả nguồn lực, năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Để thực sự đóng vai trò dẫn dắt như mục tiêu Nghị quyết số 79-NQ/TW đề ra, doanh nghiệp nhà nước cần được trao quyền thực chất, đổi mới quản trị và phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo.

Tài sản lớn nhưng khó xoay chuyển kịp theo biến động thị trường

Sau gần 40 năm đổi mới, số lượng doanh nghiệp có vốn nhà nước của Việt Nam đã thu gọn từ khoảng 50.000 xuống còn 850 doanh nghiệp. Dù chiếm tỷ trọng nhỏ về số lượng, khối này vẫn nắm giữ huyết mạch ở nhiều ngành, lĩnh vực then chốt với quy mô tài sản khoảng 4,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, như Nghị quyết số 79-NQ/TW đã chỉ ra, các doanh nghiệp nhà nước - lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước - hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ.

TS. Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Nghiên cứu chính sách, Trường đại học VinUni phân tích, khác với khối tư nhân - “ông chủ” trực tiếp quản lý hoặc giám sát rất sát hoạt động kinh doanh, ở doanh nghiệp nhà nước, chủ sở hữu thực chất là toàn dân, ủy quyền cho Nhà nước, Nhà nước ủy quyền cho bộ/ngành quản lý, rồi bộ/ngành mới ủy quyền cho người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp. Chuỗi ủy quyền dài này làm giảm động lực tối đa hóa hiệu quả hoạt động, dẫn đến cơ chế can thiệp hành chính sâu, ra quyết định chậm và triệt tiêu tinh thần dám chịu rủi ro của nhà điều hành.

Kỹ sư vận hành Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 - Hưng Yên. Ảnh: Đức Thanh

Kỹ sư vận hành Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 - Hưng Yên. Ảnh: Đức Thanh

Một bài học thực tiễn được nhắc lại là trường hợp hãng hàng không Pacific Airlines áp dụng công cụ phòng ngừa rủi ro giá nhiên liệu (hedging) dẫn đến thua lỗ nhiều năm trước. Hệ quả tâm lý sau đó là lãnh đạo nhiều doanh nghiệp nhà nước e dè, không muốn quyết định để bảo đảm an toàn cho bản thân.

Ông Doãn Thanh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính) cũng chia sẻ, sự thiếu triệt để trong phân cấp, phân quyền vô hình trung trở thành “chỗ dựa” cho tâm lý sợ sai, đẩy doanh nghiệp sang việc chạy đi “xin ý kiến”, “xin phê chuẩn” nhiều tầng nấc để đảm bảo an toàn, làm chậm tiến độ cơ cấu lại và tuột mất các cơ hội đầu tư kinh doanh quý giá.

Bên cạnh đó, cơ chế quản trị tài sản công cũng bộc lộ những điểm nghẽn lớn. Ông Bùi Khắc Hiền - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nêu ra một nghịch lý: “Chúng ta giao vốn, giao tài sản cho doanh nghiệp, nhưng lại không coi đó là tài sản thực sự của họ”. Nhiều doanh nghiệp nắm trong tay hàng nghìn tỷ đồng, sở hữu các quỹ đất đai, nhà xưởng, hạ tầng khổng lồ nhưng không thể tăng trưởng, không thể xoay xở kinh doanh vì không được coi các tài sản đó là của mình để mang đi thế chấp, liên doanh hay đầu tư tự chủ. Điều này khiến số tài sản lớn trên sổ sách gần như “bất động” trước dòng chảy thị trường.

Chuyển “tư thế phòng thủ” sang “tư thế tấn công”

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mang đến một làn gió đổi mới mang tính bước ngoặt khi định vị kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng không phải bằng khẩu hiệu, bao cấp hay ưu đãi hành chính độc quyền, mà phải bằng năng lực thực tế.

Chuyển đổi căn bản này được TS. Nguyễn Tú Anh ví như một bước chuyển tư duy từ “tư thế phòng thủ” sang “tư thế tấn công”. Doanh nghiệp nhà nước không thể mãi bám giữ “sân nhà” nhờ các rào cản bảo hộ hay ưu thế độc quyền tự nhiên, mà phải chủ động vươn ra quốc tế, bứt phá trong việc làm chủ công nghệ lõi và xây dựng năng lực cạnh tranh sòng phẳng.

Xây dựng một hệ sinh thái kinh tế thống nhất

Theo chuyên gia, khái niệm “dẫn dắt” trong kỷ nguyên mới cần được định nghĩa lại. Doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt không có nghĩa là lấn át hay loại bỏ khu vực tư nhân.

TS. Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh: “Không thể để doanh nghiệp nhà nước đi một đường ray, tư nhân đi một đường ray khiến sức mạnh bị chia đôi”. Thay vào đó, chúng ta phải xây dựng một hệ sinh thái kinh tế thống nhất, nơi các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn đóng vai trò là hạt nhân, tạo ra các chuỗi giá trị và hệ sinh thái vệ tinh để kéo các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia phát triển.

Thực tiễn chứng minh, Việt Nam không thiếu những hình mẫu thành công khi được đặt đúng cơ chế. Trường hợp của Tập đoàn Viettel là một minh chứng sống động. Từ một đơn vị xây lắp nhỏ, Viettel đã bứt phá thành tập đoàn viễn thông hàng đầu và đang tiến sâu vào lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, tự chủ nghiên cứu chế tạo thiết bị.

Bí quyết thành công của Viettel, theo phân tích của TS. Nguyễn Đình Cung - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nằm ở việc kết hợp hài hòa giữa sứ mệnh quốc gia lớn lao, tinh thần cống hiến mãnh liệt của tập thể và đặc biệt là bản lĩnh dám nghĩ, dám làm của người đứng đầu đặt trong kỷ luật nghiêm minh. Đây là bài học cho quá trình cải cách khối doanh nghiệp nhà nước sắp tới.

Đánh giá hiệu quả trên tổng thể danh mục đầu tư

Để hiện thực hóa tầm nhìn của Nghị quyết số 79-NQ/TW , các chuyên gia đồng thuận cần thực thi ngay các nhóm giải pháp căn cơ.

Đó là phải phân cấp, phân quyền thực chất và cải cách mô hình đại diện chủ sở hữu. Các cơ quan quản lý chỉ nên giữ vai trò hoạch định chính sách vĩ mô, còn hoạt động đầu tư và điều hành vốn phải được giao cho các tổ chức chuyên trách như Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) vận hành theo cơ chế thị trường thuần túy, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia chuyên nghiệp.

Cùng với đó là chuyển đổi phương thức đánh giá hiệu quả hoạt động. Thay vì xem xét từng dự án đầu tư đơn lẻ bằng quy định hành chính, Nhà nước cần đánh giá hiệu quả trên tổng thể danh mục đầu tư theo thông lệ quốc tế. Đặc biệt, các khoản chi cho nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được tách bạch và hạch toán riêng.

Đồng thời, xử lý dứt điểm các tồn đọng pháp lý và đất đai. Các bộ, ngành, địa phương cần có sự phối hợp đồng bộ để hoàn tất việc xử lý tài chính và phê duyệt phương án sử dụng đất của doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa.

Một tín hiệu rất tích cực là các định hướng này đã bước đầu được thể chế hóa trong Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025. Luật đã quy định rõ việc phân định chức năng, mở rộng quyền tự quyết cho doanh nghiệp trong các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh thông thường.

Đặc biệt, ngày 24/8, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự và xử lý kỷ luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhưng vì lợi ích chung. Đây sẽ là “chiếc phao” pháp lý giúp các nhà quản lý mạnh dạn hơn, khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, bứt phá sáng tạo vì lợi ích chung.

Chặng đường mới đòi hỏi một tư duy mới. Khi những rào cản thể chế được tháo gỡ, quyền tự chủ được trả lại thực chất và bản lĩnh đổi mới được bảo vệ, khối tài sản 4,5 triệu tỷ đồng của kinh tế nhà nước sẽ thực sự chuyển mình, đưa các con tàu Việt Nam vững vàng vượt ra biển lớn và dẫn dắt nền kinh tế cất cánh.

Dương An

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/danh-thuc-nguon-luc-4-5-trieu-ty-dong-trong-doanh-nghiep-nha-nuoc-203081-203081.html