Đánh thức 'nguồn lực mềm' từ vùng đất di sảnKỳ 2: Chuyện làng, mạch nguồn di sản sống mãi cùng thời gian
Nằm bên dòng sông Trà Bồng, hai làng cổ Mỹ Huệ và Đông Yên hiện lưu giữ những lớp văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Từ lăng vạn của cư dân miền biển, những làn điệu bả trạo trong lễ hội truyền thống đến di tích, di sản tư liệu gắn với cuộc đời và sự nghiệp của danh thần Trần Công Hiến và nhà thơ Tế Hanh, tất cả góp phần tạo nên một không gian văn hóa giàu bản sắc. Mạch nguồn di sản ấy không chỉ nhắc nhớ về quá khứ mà còn mở ra cơ hội phát triển, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương.


Theo lời kể của các bậc cao niên, vào thời Lê Thánh Tông và thời các chúa Nguyễn, những dòng họ như Trần, Nguyễn theo thuyền đến vùng đất Bình Sơn xưa. Ban đầu, họ định cư ở khu vực cửa biển Sa Cần, Sa Kỳ, sau đó dần chuyển vào đất liền, dọc theo các dòng sông lớn, trong đó có sông Trà Bồng. Vạn Đông Yên cũng hình thành từ quá trình khai phá, lập làng ấy. Gắn bó với với sông nước, biển cả quanh năm, người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề chài lưới, nhất là nghề đánh bắt mực truyền thống nên làng còn có tên Vạn Cồn Mành.
Thuở ban đầu, thuyền buồm, thúng và ngư cụ còn thô sơ, việc dự báo thời tiết hạn chế, những chuyến ra khơi luôn đối mặt với nhiều hiểm nguy. Từ ước vọng cầu cho người an, vật thịnh, những chuyến biển thuận buồm xuôi gió, ngư dân dựng Lăng Vạn Cồn Mành để thờ thần Nam Hải, tức Cá Ông, vị thần được cư dân miền biển tôn kính và gửi gắm niềm tin. Về sau, lăng đổi tên thành Lăng Vạn Đông Yên.

Lăng Vạn Đông Yên là không gian tín ngưỡng lâu đời của cư dân miền biển, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa gắn với quá trình lập làng, khai phá vùng đất Bình Sơn
Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân, Lăng Vạn Đông Yên còn là công trình kiến trúc nghệ thuật mang dấu ấn thời gian hàng trăm năm tuổi. Theo tư liệu địa phương, năm trùng tu sớm nhất của lăng là 1811. Hệ thống vì kèo gỗ, cửa bức bàn, long đình, án thờ, liễn đối và đồ thờ cúng vẫn lưu giữ nhiều giá trị mỹ thuật tinh xảo, thể hiện trình độ kỹ thuật của các nghề mộc, chạm khắc, khảm xà cừ của người xưa.
Những họa tiết chạm khắc như dơi tượng trưng cho ngũ phúc, hoa dây, lưỡng long chầu nguyệt, cùng các đồ án trang trí tùng lộc, mai điểu và tài liệu Hán Nôm là những dấu tích, nguồn sử liệu làm rõ lịch sử hình thành vùng đất, không gian văn hóa và đời sống tín ngưỡng của cư dân địa phương.

Các hiện vật, đồ thờ và tư liệu Hán Nôm tại Lăng Vạn Đông Yên góp phần lưu giữ những dấu tích lịch sử, văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương
Với ông Nguyễn Ngọc Lai (70 tuổi), thành viên Ban tế tự Lăng Vạn Đông Yên, gìn giữ di sản không chỉ là bảo vệ một công trình cổ mà còn là tiếp nối những tập quán văn hóa đã gắn bó với cuộc sống của bao thế hệ ngư dân.
Hơn 15 năm gắn bó với nghệ thuật diễn xướng bả trạo, ông Lai học hỏi từ những người đi trước, rồi cùng các thành viên trong đội tham gia trình diễn trong những dịp lễ cúng tại lăng. Điều đáng quý là đội bả trạo chủ yếu do chính những ngư dân địa phương đảm nhận. Họ vừa lao động mưu sinh, vừa dành thời gian luyện tập, trao truyền những câu hát, nhịp chèo và cách thức diễn xướng của cha ông.
Ông Lai cho biết, hằng năm, người dân trong vạn cùng chính quyền địa phương tổ chức nhiều lễ hội truyền thống như hội đua thuyền vào mùng 4 Tết Nguyên đán, lễ Tế thần Nam Hải vào hai dịp lệ Xuân, ngày 8 tháng Giêng âm lịch, và lệ Thu, ngày 16.7 âm lịch. Trong đó, lệ Thu là dịp quan trọng nhất trong năm, vừa thực hành tín ngưỡng thờ Cá Ông vừa mang ý nghĩa tổng kết mùa đánh bắt trên biển và một năm lao động, sản xuất của người dân trong làng.

Các bậc cao niên kể lại câu chuyện hình thành Lăng Vạn Đông Yên, góp phần lưu giữ ký ức làng biển và trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ sau
Trong không gian lễ hội, bả trạo không đơn thuần là tiết mục diễn xướng phục vụ nghi lễ. Qua lời hát, nhịp chèo và động tác trình diễn, cuộc sống lao động của ngư dân hiện lên với những chuyến biển nhiều gian nan, những lần đối mặt với sóng to, gió lớn và khát vọng trở về bình an. Đó cũng là lời gửi gắm ước mong mưa thuận gió hòa, biển yên, cá đầy khoang, gia đình no ấm.
Những giá trị ấy được nuôi dưỡng từ đời sống cộng đồng, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khi những người cao tuổi còn tâm sức truyền dạy, lớp trẻ còn tham gia đội bả trạo, di sản không chỉ nằm trong ký ức mà tiếp tục hiện diện trong đời sống.
Đầu năm 2025, bia sự kiện lịch sử Lăng Vạn Đông Yên và tượng đài Cá Voi - biểu tượng của thần Nam Hải, được đầu tư tôn tạo, xây dựng. Công trình góp phần làm rõ hơn những dấu mốc lịch sử, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và tình cảm gắn bó của cộng đồng với không gian tín ngưỡng truyền thống.

Nếu Lăng Vạn Đông Yên kể câu chuyện về cuộc sống của cư dân miền biển thì những di tích lịch sử, tư liệu gắn với hai người con tài năng, đức độ của vùng đất Bình Dương (xưa) - danh thần Trần Công Hiến và nhà thơ Tế Hanh lại minh chứng vùng đất Bình Sơn giàu văn hóa, con người Bình Sơn tài đức luôn song hành.
Trần Công Hiến (1769–1817), thụy Cương Nghị, tước Ân Quang Hầu, sinh ra trong một gia đình nghèo ở làng Vạn An, tổng Trung, huyện Chương Nghĩa, nay thuộc xã Tư Nghĩa. Sau khi cha mất sớm, ông theo mẹ về quê ngoại ở làng Mỹ Huệ, tổng Bình Hà, phủ Bình Sơn, nay là thôn Mỹ Huệ, xã Bình Sơn.
Trong ký ức hậu thế, ông là người con hiếu thảo, một võ tướng tài năng và vị quan thanh liêm được người dân kính trọng. Đặc biệt, tên tuổi ông gắn với Hải Học Đường, một trong những nhà in đầu tiên, hiếm hoi trong cả nước vào đầu thế kỷ XIX.
Di tích mộ và nhà thờ Trần Công Hiến cùng hệ thống thư tịch cổ Hán Nôm thời Nguyễn như văn bia, sắc phong, bài vị, đài thờ, câu đối và các tài liệu chữ Hán được lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Mỗi di vật, mỗi con chữ đều là nguồn di sản tư liệu quan trọng thuật lại chân thật cuộc đời, sự nghiệp bi tráng và những chiến công hiển hách của Ân Quang Hầu Trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến. Đây còn là lát cắt lịch sử sâu sắc về một dòng tộc, về tình hình chính trị, xã hội và văn hóa trong một giai đoạn cụ thể của nước nhà.

Nhà thờ họ Trần ở thôn Đông Yên gắn với tuổi thơ nhà thơ Tế Hanh, đồng thời lưu giữ những giá trị kiến trúc, gia phong và ký ức của nhiều thế hệ trong dòng tộc
Cách làng Mỹ Huệ không xa, nhà thờ họ Trần ở thôn Đông Yên là địa chỉ gắn với tuổi thơ của nhà thơ Tế Hanh và nhiều người con tài hoa của quê hương Quảng Ngãi như chí sĩ yêu nước Trần Tố, nhà nho Trần Đại Xá, nhà thơ Trần Vị Hảo, nhạc sĩ Trần Thế Bảo, nhà thơ Phạm Minh Đạo, họa sĩ, đạo diễn phim Trần Thanh Việt...
Sinh ra và lớn lên từ một vùng quê ven sông, gần biển, Tế Hanh mang vào thơ những hình ảnh bình dị mà giàu sức gợi: con đường làng, khu vườn nhỏ, dòng sông, làng chài, cây đa, giếng nước, người mẹ già và những con người lao động chân chất, hiền lành. Chính những điều gần gũi ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ, làm nên chất thơ trong trẻo, chân tình, thấm đẫm tình yêu quê hương.
Bài thơ Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh là dấu ấn tiêu biểu trong hành trình sáng tác của ông, kết tinh tình yêu tha thiết của người con xa quê trong những năm tháng đất nước còn chia cắt, đồng thời thể hiện tình yêu đất nước và khát vọng thống nhất non sông.
Chỉ bằng những tác phẩm đầu đời như Những ngày nghỉ học, tập thơ Nghẹn ngào và Hoa niên, Tế Hanh đã khẳng định mình là cây bút thơ tinh tế, trong trẻo, giàu cảm xúc. Ông trở thành một trong những tác giả nổi bật của nền thơ ca Việt Nam và là một trong ba tác giả quê Quảng Ngãi, cùng Nguyễn Vỹ, Bích Khê, được Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu trong tác phẩm Thi nhân Việt Nam.

Nhà thơ Tế Hanh đã để lại cho hậu thế một khối lượng di sản tư liệu văn học phong phú
Gia tài sáng tác của ông để lại cho hậu thế là một khối lượng di sản tư liệu văn học phong phú, gồm hơn 20 tập thơ, 10 tập thơ dịch, các tập tiểu luận, phê bình văn học và nhiều di cảo chưa công bố. Những trang viết ấy đã phản ánh tâm huyết, hành trình sáng tạo của một nhà thơ, đồng thời, lưu giữ những rung động, ký ức và tình cảm của một người con dành cho quê hương, đất nước.
Ngôi nhà thờ họ Trần với kiến trúc ba gian hai chái, các đồ án hoa văn chạm khắc, chạm lộng mang dấu ấn nghệ thuật thế kỷ XIX, là một phần quan trọng của không gian di sản văn hóa. Bên trong nhà lưu giữ hoành phi, liễn đối, bản gia huấn, tranh sơn mài, bàn xoay, đôi phản gỗ cùng nhiều vật dụng gắn với các thế hệ trong gia tộc.
Những hiện vật này không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ mà còn gợi lại nếp sống, gia phong và những ký ức gia đình được gìn giữ qua thời gian.
Ông Trần Thanh Việt (61 tuổi), con trai nhà thơ Tế Hanh, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội nhưng luôn dành tình cảm đặc biệt đối với quê cha đất tổ. Với ông, ngôi nhà cũ, khu vườn nhỏ là nơi lưu giữ những kỷ niệm về người cha hiền lành, giàu tình yêu thương và chốn trở về, hội tụ của những người con xa hương.
Từ Lăng Vạn Đông Yên, nhà thờ họ Trần đến những di tích, tư liệu gắn với cuộc đời quan Trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến và nhà thơ Tế Hanh, mỗi địa chỉ mang một thông điệp riêng nhưng cùng góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu của vùng đất Bình Sơn.
Đó là một “bảo tàng sống” được hình thành từ dấu ấn của tiền nhân qua di sản tư liệu và thi ca; qua các phong tục, lễ hội, ký ức xa xưa và tình cảm của cộng đồng hôm nay.

Giữ gìn di sản là hành trình cần sự chung tay của nhiều thế hệ. Nếu các bậc cao niên nắm giữ ký ức, am hiểu tập quán xã hội, tín ngưỡng và có khả năng trao truyền những giá trị truyền thống thì thế hệ trẻ chính là lực lượng có thể làm mới cách tiếp cận di sản, đưa di sản đến gần hơn với đời sống hôm nay.
Chị Trần Thị Kim Chi (24 tuổi), ở thôn Đông Yên, cho biết chị tự hào khi được sinh ra và lớn lên trên vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Với chị, những địa danh như cửa Sa Cần, sông Trà Bồng, chợ Châu Ổ, các làng cổ Mỹ Thiện, Mỹ Huệ, Đông Yên, chợ Hôm, cầu Bà Dầu vừa là địa danh vừa chứa đựng dấu ấn lịch sử, sinh kế và ký ức của bao thế hệ người dân.
Bên cạnh các di tích như mộ và nhà thờ Trần Công Hiến, Lăng Vạn Đông Yên, nhà thờ họ Trần, địa phương còn lưu giữ các di sản tư liệu Hán Nôm, di sản văn học dân gian và nhiều giá trị văn hóa phi vật thể như lễ tế thần Nam Hải, lễ Cầu Ngư, hội đua thuyền, nghệ thuật trình diễn bả trạo, nghệ thuật bài chòi.

Thế hệ trẻ Bình Sơn luôn dành tình cảm đặc biệt đối với nhà thơ Tế Hanh
Theo chị Chi, bảo tồn và phát huy di sản không thể chỉ là công việc của những người lớn tuổi mà cần trở thành trách nhiệm chung của cộng đồng, trong đó có đoàn viên, thanh niên. Muốn người trẻ yêu di sản, trước hết cần tạo điều kiện để họ được tiếp cận, tìm hiểu và trực tiếp tham gia các hoạt động văn hóa tại địa phương.
“Tôi mong muốn phát huy sức trẻ trong việc giới thiệu các di tích, câu chuyện lịch sử và nét đẹp văn hóa quê hương; khuyến khích các bạn trẻ tham gia lễ hội truyền thống, tìm hiểu tư liệu, ghi lại những câu chuyện của các bậc cao niên. Khi người trẻ hiểu được giá trị của di sản, niềm tự hào sẽ dần chuyển thành ý thức và hành động gìn giữ”, chị Chi bày tỏ.
Đây cũng là hướng đi phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của văn hóa như nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh con người Việt Nam.
Tại Bình Sơn, việc đưa chủ trương phát triển văn hóa vào thực tiễn được đặt trong mối liên hệ giữa bảo tồn di sản, giáo dục cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội. Theo định hướng được địa phương nêu, Bình Sơn hướng đến xây dựng, vận hành nền tảng văn hóa số toàn dân, phấn đấu đến năm 2030 số hóa 100% di sản trên địa bàn, từ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đến các di sản văn hóa phi vật thể.

Bia sự kiện lịch sử Lăng Vạn Đông Yên và tượng đài Cá Voi (biểu tượng Thần Nam Hải) được tôn tạo, xây dựng, góp phần gìn giữ ký ức và phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng
Đồng thời, địa phương định hướng phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tập trung vào những lĩnh vực có tiềm năng như thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa. Việc kết nối chính quyền với các nhà sưu tập tư nhân, từng bước hình thành mô hình bảo tàng đối tác, số hóa tư liệu và đưa di sản vào hoạt động giáo dục học đường cũng được xem là những giải pháp góp phần mở rộng không gian bảo tồn.
Theo ông Võ Văn Đồng, Bí thư Đảng ủy xã Bình Sơn, địa phương xác định cộng đồng là chủ thể bảo tồn di sản, nghệ nhân và những người am hiểu văn hóa là lực lượng nòng cốt, còn thế hệ trẻ giữ vai trò kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống.
Vì vậy, cùng với bảo vệ di tích, di sản tư liệu và duy trì lễ hội, địa phương chú trọng tuyên truyền, trao truyền di sản, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và từng bước ứng dụng công nghệ số trong lưu giữ, quảng bá giá trị văn hóa.
Bình Sơn cũng định hướng kết nối di tích, làng nghề, lễ hội và sản phẩm đặc trưng để phát triển du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế.
Đồng nhấn mạnh, phát triển phải đi đôi với bảo tồn, không vì lợi ích trước mắt mà làm mai một di sản; người dân cần được tham gia và hưởng lợi thiết thực từ quá trình phát huy giá trị văn hóa quê hương.

Bảo tồn di sản không chỉ là gìn giữ những giá trị thuộc về quá khứ mà còn là tìm cách phát huy những giá trị ấy trong đời sống hiện tại. Với Bình Sơn, hệ thống di tích, làng nghề, lễ hội, di sản tư liệu và cảnh quan ven sông Trà Bồng mở ra cơ hội kết nối các sản phẩm văn hóa, lịch sử với hoạt động du lịch, góp phần đa dạng hóa sinh kế cho người dân.
Trên tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 22.6.2026 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi về phát triển du lịch bền vững, Đảng ủy xã Bình Sơn xác định phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa, bảo vệ tài nguyên, môi trường và bảo đảm lợi ích của cộng đồng dân cư.
Theo đó, địa phương định hướng rà soát, đánh giá tiềm năng, lợi thế, nghiên cứu kết nối Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nghề gốm Mỹ Thiện với hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, không gian ven sông Trà Bồng, các sản phẩm OCOP và những giá trị văn hóa đặc sắc khác.
Trên cơ sở điều kiện thực tế và nguồn lực hiện có, xã từng bước nghiên cứu phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch cộng đồng và trải nghiệm mang dấu ấn riêng của Bình Sơn; đồng thời quan tâm kết nối với các điểm đến trong và ngoài địa phương.
Trong không gian kết nối ấy, làng gốm Mỹ Thiện có thể mang đến trải nghiệm về nghề thủ công truyền thống; Lăng Vạn Đông Yên giới thiệu đời sống tín ngưỡng và văn hóa biển; nghệ thuật bả trạo kể lại câu chuyện lao động, niềm tin của ngư dân; còn những di tích, tư liệu gắn với Danh thần Trần Công Hiến và nhà thơ Tế Hanh góp phần mở rộng chiều sâu lịch sử, văn học cũng như niềm tự hào về đất và người Bình Sơn.

Bia sự kiện lịch sử Mộ Trần Công Hiến kể về cuộc đời, sự nghiệp của Ân Quang Hầu Trấn thủ Hải Dương người Quảng Ngãi thanh liêm tài năng dưới triều Nguyễn
Cùng với việc nghiên cứu kết nối các điểm đến, địa phương quan tâm huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất và người dân tham gia bảo tồn, phát huy giá trị làng nghề, phát triển sản phẩm thủ công truyền thống, sản phẩm OCOP và các dịch vụ phù hợp với tiềm năng địa phương.
Công tác tuyên truyền, quảng bá, từng bước ứng dụng chuyển đổi số trong giới thiệu các giá trị lịch sử, văn hóa, di sản và hình ảnh quê hương cũng được chú trọng, gắn với xây dựng hình ảnh người dân Bình Sơn “Thân thiện - Nghĩa tình - Văn minh - Mến khách”.
Định hướng ấy cũng đặt ra yêu cầu phải có cách làm phù hợp với đặc trưng từng loại hình di sản. Với các công trình kiến trúc cổ và di tích lịch sử, cần chú trọng bảo vệ giá trị nguyên gốc; với di sản tư liệu, cần quan tâm kiểm kê, bảo quản, nghiên cứu và số hóa; với các hình thức diễn xướng dân gian, cần duy trì môi trường thực hành và truyền dạy. Việc khai thác du lịch cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng giá trị văn hóa, phong tục, tín ngưỡng và đời sống của cộng đồng.

Khi người dân hiểu rõ giá trị di sản, chủ động tham gia gìn giữ và có cơ hội tạo thêm sinh kế từ những hoạt động phù hợp, công tác bảo tồn sẽ có thêm nền tảng vững chắc. Khi các di tích, làng nghề và lễ hội được kết nối bằng những câu chuyện có chiều sâu, du lịch không chỉ mang đến trải nghiệm cho du khách mà còn góp phần giáo dục truyền thống, khơi dậy niềm tự hào và củng cố sự gắn bó của người dân với quê hương.
Bên dòng Trà Bồng, mạch nguồn văn hóa Đông Yên xưa vẫn tiếp tục chảy qua những mái nhà cổ, những trang tư liệu, tiếng hát bả trạo và tình yêu quê hương được trao truyền giữa các thế hệ. Mỗi di sản là một phần ký ức của cộng đồng, đồng thời cũng là nguồn lực để địa phương tìm kiếm những hướng phát triển mới.
Giữ gìn di sản vì thế không chỉ là bảo vệ những gì thuộc về quá khứ mà còn là trao cho thế hệ hôm nay cơ hội hiểu rõ cội nguồn, nuôi dưỡng niềm tự hào và xây dựng tương lai từ chính những giá trị của quê hương.
Khi cộng đồng cùng chung tay gìn giữ, cấp ủy, chính quyền đồng hành và các giá trị truyền thống được phát huy đúng hướng, mạch nguồn di sản Bình Sơn sẽ tiếp tục chảy trong đời sống hôm nay, trở thành nguồn lực nội sinh góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, nghĩa tình và phát triển bền vững.

Sông Trà Bồng hiền hòa chảy qua những làng quê Bình Sơn, bồi đắp nên không gian văn hóa đặc trưng và lưu giữ dấu ấn lịch sử, đời sống của bao thế hệ
NGUYÊN HƯƠNG - TẠ HÀ - NHƯ ĐỒNG; thiết kế: MẠNH LÊ
