Dấu xưa trên đất Hạc Thành
Trên đất Bố Vệ xưa có một nơi lưu giữ ký ức về một vương triều. Đó là Thái miếu nhà hậu Lê, nay nằm trên phố Kiều Đại, phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa.
Câu chuyện của Thái miếu bắt đầu từ năm 1805, khi vua Gia Long cho di dời Thái miếu nhà hậu Lê từ Thăng Long về đất Bố Vệ. Việc đưa nơi thờ tự các vua Lê về Thanh Hóa cũng gắn với vùng đất được xem là quê hương của nhà Lê, nơi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn và mở đầu cho một triều đại mới. Từ đó, Thái miếu tồn tại trên đất Bố Vệ qua đến ngày nay.
Nếu Lam Kinh gợi nhớ về nơi phát tích và những năm tháng dựng nghiệp của triều hậu Lê, thì Thái miếu lại là nơi thờ tự các vị vua, hoàng thái hậu nhà Lê. Hai di tích vì thế có mối liên hệ đặc biệt.

Nghê tại Thái miếu được làm bằng gỗ mít, chạm khắc rất tinh xảo.
Theo các tài liệu sử, xưa kia Thái miếu nhà hậu Lê tọa lạc trong khu rừng dẻ, nhiều cây cối bao quanh, thâm nghiêm và cổ kính, biệt lập với khu dân cư. Đền trước đây vốn bề thế với tiền điện, hậu điện, tả vu, hữu vu, phía trước có nghi môn và bình phong. Giữa sân trước tiền điện là đôi rồng đá, phía dưới hiên tiền điện là hàng nghê gỗ ngồi chầu. Hậu điện đặt bài vị vua Lê Thái Tổ và những người được thờ tự...
Đây được giới thiệu là hệ thống thờ tự đầy đủ về triều hậu Lê còn được bảo tồn đến ngày nay.

Thái miếu nhà hậu Lê còn có tên gọi khác là đền Lê, Lê Hoàng miếu, Bố Vệ miếu... nhưng tên gọi phù hợp hơn cả vẫn là Thái miếu bởi nơi đây có giá trị tinh thần cao quý.
Qua hơn 220 năm, Thái miếu đã trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo. Dù diện mạo có những thay đổi theo thời gian, việc bảo tồn vẫn hướng tới gìn giữ các yếu tố gốc và những giá trị kiến trúc, mỹ thuật truyền thống.
Năm 1995, Thái miếu được công nhận là Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Không chỉ là một di tích của quá khứ, Thái miếu vẫn hiện diện trong đời sống hôm nay. Lễ hội Thái miếu nhà Hậu Lê được tổ chức hằng năm vào tháng Giêng, với các nghi lễ dâng hương, tế lễ tưởng niệm các vua Lê và những hoạt động văn hóa truyền thống.
Năm 2026, Thanh Hóa đang thúc đẩy việc bảo tồn, tôn tạo khu di tích. Dự án được phê duyệt từ năm 2007 từng chậm tiến độ; đến tháng 8/2026 công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đã đạt 98% khối lượng. Cùng với đó, di tích đang được nghiên cứu số hóa nhằm lưu giữ và phát huy giá trị tư liệu lịch sử trong thời đại mới.

