Đẩy mạnh phát triển công nghệ sinh học - Kỳ 1: Chủ trương mở đường cho động lực tăng trưởng mới
Được Trung ương và tỉnh Gia Lai xác định là một trong những động lực tăng trưởng mới, công nghệ sinh học đang mở ra cơ hội nâng cao giá trị sản xuất, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Tuy nhiên, để trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, lĩnh vực này vẫn đối mặt với nhiều rào cản về nguồn lực, hạ tầng, nhân lực và khả năng thương mại hóa. Loạt bài “Đẩy mạnh phát triển công nghệ sinh học” phản ánh những chuyển động từ chủ trương đến thực tiễn, nhận diện điểm nghẽn và đề xuất giải pháp khai mở tiềm năng.
Từ các chủ trương của Trung ương đến Chỉ thị số 10/CT-UBND của UBND tỉnh, Gia Lai đang từng bước hoàn thiện nền tảng để công nghệ sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng. Không dừng ở định hướng, những chính sách này hướng tới mục tiêu đưa công nghệ sinh học đi sâu vào sản xuất, tạo giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, người dân và nền kinh tế.
Trong căn phòng nuôi cấy mô rộng chưa đầy 200 m² của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN (Sở KH&CN), hàng trăm bình thủy tinh xếp ngay ngắn dưới ánh đèn LED, bên trong là những chồi non được nhân giống bằng công nghệ in vitro.
Nhiều giống dược liệu địa phương đang được hoàn thiện quy trình nhân giống, mở rộng khả năng sản xuất. Cách đó không xa, tại xã An Toàn, các vùng chè dây, đảng sâm, cà gai leo được canh tác theo tiêu chuẩn GACP-WHO, từng bước tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến.
Từ phòng nuôi cấy mô đến vùng trồng dược liệu, công nghệ sinh học (CNSH) đang dần hiện diện trong sản xuất, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế kết nối nghiên cứu với thị trường để nâng cao giá trị các sản phẩm.

Bidiphar ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô trong sản xuất giống dược liệu. Ảnh: Dũng Nhân
Chủ trương mở đường
Yêu cầu phát triển CNSH đã được Trung ương xác định là một trong những nhiệm vụ chiến lược nhằm tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Ngày 30-1-2023, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về phát triển và ứng dụng CNSH phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới.
Nghị quyết xác định CNSH là một trong những lĩnh vực KHCN quan trọng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia hàng đầu châu Á về sản xuất và dịch vụ thông minh, đến năm 2045 lĩnh vực này đóng góp từ 10-15% GDP cả nước.
Để cụ thể hóa, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 189/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương trong phát triển, ứng dụng CNSH. Tuy nhiên, việc triển khai còn gặp khó do quy mô ứng dụng nhỏ, nguồn lực hạn chế và liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất chưa hiệu quả.
Trước yêu cầu đó, ngày 21-4-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ phát triển CNSH, gắn kết quả thực hiện với trách nhiệm của người đứng đầu.
Chuỗi chủ trương, chính sách này thể hiện quyết tâm đưa CNSH trở thành nền tảng KHCN phục vụ phát triển bền vững và nâng cao giá trị gia tăng cho các ngành kinh tế.

Nhiều năm qua, hơn 80% thành viên HTX Nông nghiệp và dịch vụ Đak Krong (xã Kon Gang) ứng dụng quy trình ủ phân chuồng với chế phẩm sinh học làm phân bón hữu cơ bón cho vườn cà phê. Ảnh: H.T
Bám sát chủ trương của Trung ương và chỉ đạo của Chính phủ, ngày 21-5-2026, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 10/CT-UBND về tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả CNSH trong sản xuất và đời sống; phát triển CNSH trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của tỉnh.
Điểm đáng chú ý của Chỉ thị số 10/CT-UBND là định hướng phát triển CNSH gắn chặt với nhu cầu thực tiễn, lấy doanh nghiệp, người dân và thị trường làm trung tâm; ưu tiên những lĩnh vực Gia Lai có lợi thế như nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, dược liệu, công nghiệp chế biến, y tế, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và kinh tế tuần hoàn.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Chỉ thị số 10/CT-UBND giao 9 nhóm nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường học và doanh nghiệp; yêu cầu tăng cường phối hợp, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện và gắn trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
Đây được xem là bước cụ thể hóa quan trọng, tạo hành lang chính sách để các chủ trương của Trung ương đi vào thực tiễn, đồng thời mở ra giai đoạn phát triển mới cho CNSH tại tỉnh.
Nền tảng đã hình thành
Trước khi Chỉ thị số 10/CT-UBND được ban hành, nhiều cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động nghiên cứu, ứng dụng CNSH vào sản xuất và đời sống.
Những kết quả bước đầu này không chỉ tạo tiền đề để triển khai hiệu quả các chủ trương mới mà còn cho thấy Gia Lai đã hình thành những hạt nhân ban đầu cho phát triển CNSH.
Một trong những đơn vị giữ vai trò nòng cốt là Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN (Sở KH&CN), từ năm 2021 đến nay triển khai hơn 40 nhiệm vụ, dự án về CNSH.
Nhiều quy trình công nghệ sau nghiên cứu đã được chuyển giao cho DN, HTX và người dân để đưa vào sản xuất. Tiêu biểu là mô hình sản xuất rau an toàn công nghệ cao ứng dụng hệ thống Internet vạn vật (IoT) với kinh phí 10 tỷ đồng, nhân giống nấm, chế biến đông trùng hạ thảo và sản xuất chế phẩm vi sinh; nhiều kết quả đã được chuyển giao vào sản xuất.
Không chỉ dừng ở hoạt động nghiên cứu, CNSH còn được ứng dụng ngày càng rộng trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo ông Kiều Văn Cang - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường), CNSH được ứng dụng ở hầu hết các khâu của sản xuất nông nghiệp, từ chọn tạo giống, sử dụng chế phẩm sinh học đến xử lý môi trường và phát triển chuỗi giá trị nông sản.
Đáng chú ý, việc áp dụng các quy trình sinh học theo hướng xanh, hữu cơ và tuần hoàn đang góp phần giảm tác động đến môi trường, đồng thời nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm nông nghiệp. Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững đối với các ngành hàng chủ lực của tỉnh.
Ở lĩnh vực y tế - dược, CNSH cũng đang từng bước tạo nền tảng cho phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Theo Phó Giám đốc Sở Y tế Lý Minh Thái, mặc dù việc sản xuất thuốc sinh học và sinh phẩm y tế trên địa bàn tỉnh mới ở giai đoạn đầu, nhưng đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục mở rộng trong thời gian tới.
Hiện tỉnh có 3 doanh nghiệp ứng dụng CNSH trong sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, gồm Công ty CP Dược - Trang thiết bị Y tế Bình Định (Bidiphar, phường Quy Nhơn Nam), Công ty CP Kỹ thuật Dược Bình Định (phường Quy Nhơn Đông) và Công ty CP Fresenius Kabi Việt Nam (phường Quy Nhơn Bắc).
Đối với lĩnh vực dược liệu, tỉnh có 2 cơ sở sản xuất, chế biến đạt tiêu chuẩn GMP. Trong đó, Bidiphar đã được cấp chứng nhận GACP-WHO cho nhiều loại dược liệu quý, đồng thời phát triển vùng nguyên liệu liên kết tại An Vinh, An Toàn và một số khu vực có tiềm năng.

Vùng dược liệu của Bidiphar ở xã An Toàn. Ảnh: Dũng Nhân
Bên cạnh đó, Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh (phường Pleiku) đã nghiên cứu, sản xuất hơn 40 sản phẩm ứng dụng CNSH từ dược liệu trên dây chuyền đạt chuẩn GMP.
Theo ông Nguyễn Hữu Hà - Phó Giám đốc Sở KH&CN, những cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này sẽ là lực lượng quan trọng để tiếp nhận, làm chủ và chuyển giao công nghệ; từng bước nghiên cứu, cải tiến quy trình sản xuất, phát triển thuốc generic, thuốc có dạng bào chế hiện đại, thuốc từ dược liệu và hướng tới sản xuất các sinh phẩm y tế khi đủ điều kiện.
Cùng với đó, việc phát triển các vùng trồng dược liệu đạt chuẩn sẽ góp phần bảo tồn và khai thác hiệu quả nguồn gen bản địa, chuẩn hóa nguyên liệu đầu vào, nâng cao giá trị và đa dạng hóa các sản phẩm từ dược liệu của tỉnh.
Có thể thấy, sau các chủ trương của Trung ương, chương trình hành động của Chính phủ và Chỉ thị số 10/CT-UBND, Gia Lai đã hình thành nền tảng ban đầu cho phát triển CNSH với đội ngũ nghiên cứu, phòng thí nghiệm, DN tiên phong và nhiều mô hình ứng dụng.
Tuy nhiên, để CNSH thực sự trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, yêu cầu đặt ra là đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hình thành các chuỗi giá trị và tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Hải Giang nhấn mạnh: “Chỉ thị số 10/CT-UBND được kỳ vọng sẽ tạo động lực đưa các chủ trương vào thực tiễn, thúc đẩy CNSH phát triển mạnh trong sản xuất và đời sống. Khi chính sách đã mở đường, điều quan trọng là chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành quy trình sản xuất, sản phẩm và giá trị kinh tế”.
-------------------------------------












