Để cây chè mãi ngát hương

Trong bức tranh kinh tế nông nghiệp của Lào Cai, cây chè từ lâu đã được xác định là một trong những cây trồng hàng hóa chủ lực. Tuy nhiên, để đưa hương chè vươn xa và nâng tầm giá trị trên bản đồ thế giới, cần những 'cú huých' nhằm hóa giải các 'điểm nghẽn'.

Với hơn 2.640 ha, cây chè đã thực sự trở thành cây trồng chủ lực tại xã Bản Lầu. 5 tháng đầu năm, sản lượng chè búp tươi trên địa bàn đạt gần 7.000 tấn. Từ chè, Bản Lầu hiện có 13 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, cùng 7 hợp tác xã, 4 doanh nghiệp và 12 tổ hợp tác đang hoạt động hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Toàn tỉnh hiện có 15.475 ha chè, trong đó chè kinh doanh chiếm 13.297 ha, 2.419 ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ. Năm 2025, sản lượng chè búp tươi đạt gần 130.000 tấn, giá trị ước đạt hơn 960 tỷ đồng. Trồng chè đã mang lại nguồn sinh kế bền vững, tạo việc làm quanh năm cho hàng vạn hộ dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số tại nhiều địa phương.

Cũng như tại xã Bản Lầu, với 343 ha chè, sản lượng gần trên 2.500 tấn/năm, trồng chè đã đem lại thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình tại xã Thác Bà.

Ông Nguyễn Vinh Quang - Phó Chủ tịch UBND xã Thác Bà cho biết: “Trồng chè đã góp phần để kinh tế xã tăng trưởng rõ rệt, thu nhập bình quân năm 2025 của Thác Bà đạt 62,5 triệu đồng/người/năm, hộ nghèo giảm xuống còn 1,31%”.

Sản xuất chè không chỉ mang lại thu nhập mà còn thay đổi tư duy canh tác của người dân, từng bước chuyển từ phương thức truyền thống sang quy trình an toàn, sạch. Qua đó, bảo vệ sức khỏe người dân, không gây ô nhiễm đất đai và nâng tầm thương hiệu chè Lào Cai.

Sản phẩm không chỉ tiêu thụ nội địa mà phần lớn phục vụ xuất khẩu sang Trung Đông, Đài Loan (Trung Quốc) và nhiều nước trên thế giới, giúp mang lại nguồn ngoại tệ ổn định cho địa phương.

Sự phát triển của vùng nguyên liệu chè đã thu hút nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư xây dựng nhà máy chế biến sâu với công suất lớn, nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc duy trì, phát triển cây chè hiện đang gặp nhiều rào cản. Địa hình chia cắt khiến quy mô sản xuất nhỏ, khó áp dụng cơ giới hóa. Việc chuyển đổi sang thâm canh hữu cơ chậm do chi phí cao và thiếu hỗ trợ từ doanh nghiệp.

Liên kết giữa doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân chưa chặt chẽ, còn xảy ra ép giá, “bẻ kèo”. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô, giá trị gia tăng thấp, thương hiệu quốc tế chưa mạnh. Thời tiết cực đoan và biến động địa chính trị cũng ảnh hưởng tiêu cực, dẫn đến một số nơi người dân phá bỏ chè để chuyển sang cây trồng khác...Vì vậy cần những “cú huých” nhằm hóa giải các “điểm nghẽn” trên.

Ông Ngô Quyền - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Chăn nuôi, Thú y, Thủy sản tỉnh: " Cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm đó là: Thực hiện tốt quy hoạch và kỹ thuật; tổ chức sản xuất; xúc tiến thương mại và chế biến; xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và gắn với du lịch trải nghiệm".

Mục tiêu đến năm 2030, Lào Cai tiếp tục duy trì 15.800 ha chè, áp dụng quy trình VietGAP và hữu cơ; cải tạo, thâm canh nâng năng suất đạt từ 10 - 15 tấn/ha/năm, tăng chế biến chè xanh chất lượng cao lên từ 30 - 40%.

Giảm xuất khẩu sang thị trường dễ tính, mở rộng sang EU, Đông Âu, Đài Loan (Trung Quốc) đạt 20 - 30% sản lượng, nội tiêu chiếm 30%. Mở rộng diện tích chè vùng cao, chè cổ thụ hữu cơ, bảo tồn giống bản địa, kết hợp ứng dụng khoa học - kỹ thuật và xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm chè Shan tuyết Suối Giàng, Bắc Hà, Mường Khương.

Để đạt mục tiêu đề ra, bên cạnh làm tốt công tác tuyên truyền vận động người dân gắn bó với cây chè, các địa phương cần hình thành những vùng nguyên liệu quy mô lớn nhằm tối ưu hóa việc đưa máy móc vào khâu làm đất, tưới tiêu và thu hoạch.

Ông Nguyễn Vinh Quang - Phó Chủ tịch UBND xã Thác Bà cho biết: “Cần tiếp tục tập trung tập huấn, chuyển giao những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, mở rộng diện tích chè hữu cơ, thay thế dần các diện tích chè già cỗi bằng các giống chè mới có năng suất cao”.

Giúp người trồng chè an tâm sản xuất, cốt lõi ở mối gắn kết hữu cơ giữa doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân. Vì vậy, chính quyền đóng vai trò trọng tài với cơ chế giám sát và chế tài rõ ràng. Doanh nghiệp cần cam kết bao tiêu ổn định; ngược lại, nông dân phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình canh tác an toàn.

Đồng thời, triển khai hiệu quả Nghị quyết số 21/2025/NQ-HĐND ngày 9/12/2025 của HĐND tỉnh về chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản được xem là “đòn bẩy” quan trọng, giúp giảm bớt gánh nặng chi phí ban đầu cho các hộ và doanh nghiệp, hợp tác xã trong phát triển vùng chè.

Triển khai hiệu quả các cơ chế khuyến khích các nhà máy nâng cấp dây chuyền, nâng công suất chế biến để chuyển dịch từ chế biến thô là chè xanh, chè đen bán thành phẩm sang các dòng sản phẩm tinh chế có giá trị gia tăng cao.

Tiếp tục áp dụng công nghệ, chuyển đổi số trong quảng bá sản phẩm qua việc chính quyền cần chủ trì xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm chè để nâng cao độ nhận diện trên bản đồ chè thế giới... mở rộng thị trường xuất khẩu.

Một hướng đi bền vững là biến những đồi chè có cảnh quan tươi đẹp, những rừng chè Shan vùng cao thành các điểm đến du lịch canh nông. Du khách đến đây không chỉ để ngắm nhìn mà còn được trải nghiệm tự tay hái chè, học cách sao chè và thưởng trà cùng đồng bào bản địa. Mô hình “lợi ích kép” này vừa quảng bá sản phẩm tại chỗ hiệu quả, vừa mở ra kênh sinh kế thứ hai giúp đồng bào nâng cao thu nhập một cách bền vững.

Bằng những quyết sách bài bản cùng sự đồng lòng của chính quyền, doanh nghiệp và người dân, thương hiệu chè Lào Cai chắc chắn sẽ định vị vững chắc được vị thế của mình, lan tỏa vị chát ngọt đậm đà từ núi cao ra thế giới.

Nguyễn Đình Tứ

Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/de-cay-che-mai-ngat-huong-post901757.html