Để văn hóa đổi mới sáng tạo trở thành động lực nội sinh

Trong guồng quay của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đổi mới sáng tạo không còn là một khẩu hiệu thời thượng mà đã trở thành nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

Tại nước ta, khi lực lượng sản xuất đang chuyển mình mạnh mẽ từ nền tảng cơ khí sang nền tảng số, từ ưu thế cơ bắp sang lao động trí tuệ, việc xây dựng một hệ giá trị tinh thần mới là văn hóa đổi mới sáng tạo đang trở thành yêu cầu cấp thiết để giải phóng nguồn lực con người.

Chúng ta biết rằng, văn hóa đổi mới sáng tạo không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ hay hoàn thiện các thiết chế kỹ thuật. Đó là một chỉnh thể các giá trị, chuẩn mực và thiết chế có chức năng định hướng, điều phối hành vi, khuyến khích tư duy độc lập và dám phủ định cái cũ lỗi thời để dấn thân vào những thử nghiệm mới. Nhìn từ góc độ triết học Mác-Lênin, đây chính là sự vận động của kiến trúc thượng tầng nhằm mở đường cho lực lượng sản xuất mới phát triển. Tuy nhiên, ở nước ta, quá trình này đang đứng trước những mâu thuẫn nội tại giữa khát vọng bứt phá và “sức ỳ” của tâm lý tiểu nông, giữa yêu cầu sáng tạo và tâm lý ngại sai, ngại rủi ro.

Bức tranh thực tế thời gian qua cho thấy những tín hiệu đầy lạc quan nhưng cũng không ít trăn trở. Theo báo cáo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể, từ vị trí 47 năm 2017 lên vị trí 44 vào năm 2024-2025. Những “điểm tụ” sáng tạo như Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) hay hệ sinh thái với hơn 4.000 startup đã hình thành, tạo nên một mạng lưới liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và trường đại học. Mới đây, việc Thành phố Hồ Chí Minh triển khai Đề án thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu với 54 sản phẩm đăng ký đợt đầu là một minh chứng sống động cho nhu cầu đưa tri thức ra thị trường.

Thế nhưng, đằng sau những con số hào nhoáng là một thực tế khắc nghiệt: Không ít đề tài khoa học sau nghiệm thu vẫn chịu cảnh “cất ngăn kéo”. Tại sao tri thức chưa thể hóa thành của cải một cách mạnh mẽ? Câu trả lời nằm ở những “nút thắt” về thể chế, năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp và sự thiếu hụt các hệ thống trung gian. Khi nhóm chỉ số đầu vào cho đổi mới sáng tạo tăng mạnh nhưng đầu ra về sản phẩm tri thức và công nghệ lại có dấu hiệu chững lại, đó là lúc chúng ta phải nhìn nhận lại năng lực chuyển hóa của hệ thống.

Rõ ràng, muốn văn hóa đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực nội sinh, chúng ta cần những cú hích đồng bộ. Trước hết, thể chế phải đi trước một bước. Việc luật hóa ba trụ cột khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào năm 2025 là bước đi đúng đắn, nhưng quan trọng hơn là phải hiện thực hóa cơ chế thử nghiệm chính sách để bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm. Giáo dục cũng cần một cuộc đại cải cách để chuyển từ truyền thụ tri thức sang khơi gợi tư duy phản biện và năng lực giải quyết vấn đề, đào tạo nên những con người sáng tạo thực thụ.

Đặc biệt, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam không thể là sự sao chép máy móc các mô hình ngoại lai. Nó phải được bén rễ từ bản sắc văn hóa dân tộc, tinh thần cộng đồng, ý chí vượt khó và khát vọng vươn lên, kết hợp hài hòa với tinh thần tự do tư duy của thời đại số. Chỉ khi tinh thần sáng tạo thấm sâu vào từng doanh nghiệp, từng lớp học và trở thành chuẩn mực đạo đức trong lao động trí óc, khi đó tri thức mới thực sự thoát ly khỏi những trang giấy để chảy vào mạch sống của nền kinh tế.

Xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo là một hành trình dài, đòi hỏi sự kiên trì và chấp nhận cả những thất bại tạm thời. Khi rào cản tâm lý được dỡ bỏ và thể chế trở thành bệ đỡ vững chắc, tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam sẽ được khai phóng, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên số với một tư thế tự cường và bản sắc riêng biệt.

Xây Dựng

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/de-van-hoa-doi-moi-sang-tao-tro-thanh-dong-luc-noi-sinh-post501746.html