Gỡ 'điểm nghẽn' hạ tầng số để bứt phá
Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận về độ phủ, với khoảng 78% dân số sử dụng Internet, 4G phủ gần như toàn bộ dân số, và kinh tế số đóng góp khoảng 14–15% GDP. Hạ tầng số giờ đây không còn là lựa chọn mà đã trở thành một trong những trụ cột chiến lược, góp phần xây dựng quốc gia số, kinh tế số và xã hội số.

Xe phát sóng lưu động của VNPT tăng cường các đợt cao điểm như Tết, các ngày lễ... để tăng cường chất lượng dịch vụ. Ảnh: VNPT.
Hạ tầng số là hạ tầng của nền kinh tế. Hạ tầng số của Việt Nam bao gồm 4 thành phần chính là hạ tầng viễn thông và Internet; hạ tầng dữ liệu; hạ tầng vật lý - số và hạ tầng tiện ích số và Công nghệ số như dịch vụ.
Phát triển hạ tầng số là một trong ba trụ cột chính của chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Chính phủ đặt mục tiêu xây dựng hệ thống hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu bùng nổ dữ liệu, đảm bảo an toàn, an ninh mạng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Hiện Việt Nam đang tập trung vào mở rộng và nâng cấp hạ tầng băng thông rộng trên toàn quốc. Các khu vực trọng điểm như thành phố lớn, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cơ quan nhà nước được ưu tiên đầu tư. Mục tiêu đặt ra theo chiến lược phát triển hạ tầng số quốc gia là đến năm 2030, 100% người sử dụng có khả năng truy nhập cáp quang với tốc độ 1Gb/s trở lên; mạng băng rộng di động 5G phủ sóng 99% dân số; xây dựng, bảo đảm năng lực, sẵn sàng triển khai thử nghiệm mạng di động 6G.
Ông Vũ Hoàng Liên – Chủ tịch Hiệp hội Internet Việt Nam cho biết, hạ tầng số ngày nay giữ vai trò tương tự như “điện – đường – trường – trạm” trong giai đoạn phát triển trước đây, trở thành nền tảng cốt lõi của lực lượng sản xuất quốc gia. Đặt trong tương quan với khu vực, hạ tầng số của Việt Nam hiện ở mức trung bình khá trong ASEAN, có nền tảng tương đối tốt nhưng vẫn chưa vươn lên nhóm dẫn đầu.
Theo ông, để tạo bước đột phá, Việt Nam cần sớm tháo gỡ ba “điểm nghẽn” lớn. Thứ nhất là tiến độ triển khai 5G còn chậm, do vướng mắc về cơ chế tần số và bài toán đầu tư. Thứ hai là thiếu hụt hạ tầng nền tảng, đặc biệt là các trung tâm dữ liệu quy mô lớn (hyperscale) và năng lực tính toán phục vụ AI, điện toán đám mây. Thứ ba là sự chênh lệch về chất lượng và hiệu quả khai thác hạ tầng, khi việc ứng dụng cho chính phủ số, kinh tế số và xã hội số chưa đồng đều.
Từ kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, ông Liên nhấn mạnh Việt Nam cần chuyển từ tư duy “phổ cập hạ tầng” sang đầu tư có trọng điểm vào hạ tầng lõi và hệ sinh thái công nghệ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách để thu hút nguồn lực đầu tư lớn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khai thác hiệu quả dữ liệu.
Bên cạnh sự đầu tư và hỗ trợ từ Nhà nước cũng khuyến khích doanh nghiệp khu vực tư nhân tham gia xây dựng hạ tầng số. Cụ thể, Chương trình khuyến khích doanh nghiệp khu vực tư nhân tham gia xây dựng hạ tầng viễn thông và các loại hạ tầng phục vụ chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030 đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, thu hút ít nhất 2 doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đầu tư xây dựng và vận hành trung tâm dữ liệu lớn, trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam; doanh nghiệp khu vực tư nhân tham gia đầu tư sở hữu thêm tối thiểu 4 tuyến cáp quang biển quốc tế; tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu của doanh nghiệp khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ viễn thông băng rộng cố định đạt khoảng 10-12%/năm…
Trước đó, Nghị quyết 193 cho phép thí điểm với sở hữu nước ngoài tới 100% nhưng phải bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông vệ tinh tầm thấp. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm mở rộng không gian thu hút đầu tư, tạo điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến và thúc đẩy phát triển hạ tầng số theo hướng hiện đại, đồng bộ.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/go-diem-nghen-ha-tang-so-de-but-pha.html












