Dệt may Việt Nam xoay xở giữ đơn hàng
Kim ngạch xuất khẩu dệt may 9 tháng năm 2026 vẫn giữ được mức tăng, nhưng doanh nghiệp đang phải chạy đơn hàng nhỏ hơn, nhiều mẫu hơn, thời gian giao ngắn hơn và giá gia công khó cải thiện. Giữ việc cho công nhân, chủ động nguyên phụ liệu và đầu tư công nghệ theo sức mình đang là những việc doanh nghiệp dệt may phải tính cùng lúc trong những tháng cuối năm.
Giữ đơn hàng để giữ chuyền may
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), kim ngạch xuất khẩu toàn ngành 9 tháng năm 2026 ước đạt 35,721 tỷ USD, tăng 3,3% so với cùng kỳ. Hàng may mặc đạt khoảng 28,237 tỷ USD, tăng 2,2%; xơ sợi đạt 3,605 tỷ USD, tăng 13,08%; vải không dệt đạt 610 triệu USD, tăng 7,77%. Mục tiêu xuất khẩu cả năm vẫn được giữ ở khoảng 48 tỷ USD.

Thiết bị thêu tự động là một trong những giải pháp được giới thiệu tại VTG 2026, hướng đến tăng năng suất, ổn định chất lượng và giảm phụ thuộc lao động thủ công.
Ông Phạm Xuân Hồng - Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Thời trang Tp.HCM cho biết các doanh nghiệp đã phải nỗ lực lớn để duy trì sản xuất trong 9 tháng qua và đang trông vào diễn biến quý IV để tiến gần hơn mục tiêu xuất khẩu năm. Khó nhất hiện nay là đơn hàng ngày càng nhỏ, nhiều mẫu hơn, trong khi yêu cầu chất lượng và thời gian giao hàng lại cao hơn. Trước đây, một mã hàng có thể lên đến vài trăm nghìn sản phẩm; nay cùng một mã có thể chia thành nhiều mẫu, mỗi mẫu số lượng ít hơn.
Tình trạng này cũng được Vinatex ghi nhận. Trong 8 tháng đầu năm, doanh thu ngành may của tập đoàn tăng 3,9%, nhưng biên lợi nhuận chịu sức ép do cạnh tranh giá, đơn hàng nhỏ và thời gian giao hàng rút ngắn. Một số đơn vị đã kín đơn đến hết quý IV, nhưng mức độ phủ đơn hàng giữa các doanh nghiệp không đồng đều.
Hanosimex đã đủ đơn đến hết tháng 9, tháng 10 đạt khoảng 70% kế hoạch, còn tháng 11 và 12 mới khoảng 30%. Khách hàng vẫn khảo giá nhiều nhưng chậm chốt các đơn hàng lớn, khiến doanh nghiệp phải tiếp tục tìm việc cho nhà máy trong những tháng cuối năm.
Với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, đơn hàng gắn trực tiếp với việc giữ người. Ông Hồng cho biết: “Các doanh nghiệp hiện nay chưa quan tâm nhiều đến lợi nhuận. Mối quan tâm số một là làm sao kết nối để có đơn hàng, có việc làm cho người lao động và bảo đảm thu nhập trong tình hình khó khăn hiện nay, để người lao động có thể sống và gắn bó với doanh nghiệp. Khi tình hình tốt hơn thì doanh nghiệp mới có người để làm việc. Đó là mục tiêu số một hiện nay”.

Doanh nghiệp giới thiệu công nghệ in, xử lý và hoàn thiện sản phẩm may mặc.
Nhiều doanh nghiệp vì thế chấp nhận tìm cả những thị trường nhỏ, nhận những đơn hàng không lớn để giữ nhịp sản xuất. Trong lúc sức mua thế giới còn thất thường, việc để chuyền may hoạt động đều và giữ được công nhân đã là áp lực thường trực.
Thị trường xuất khẩu cũng thay đổi nhanh hơn. Vinatex cho biết nhu cầu tại Mỹ và EU đang có xu hướng thu hẹp; chi phí logistics, nguyên phụ liệu tiếp tục tăng; yêu cầu về xuất xứ và phòng vệ thương mại ngày càng chặt. Cạnh tranh từ Bangladesh, Trung Quốc và các quốc gia sản xuất dệt may lớn tiếp tục gây sức ép lên giá và đơn hàng. Riêng tại Mỹ, nhập khẩu dệt may trong 7 tháng năm 2026 giảm 7,7% so với cùng kỳ, trong đó may mặc giảm 9%. EU cũng giảm nhập khẩu dệt may 8% trong 6 tháng đầu năm. Nhật Bản là một trong những thị trường tăng nhập khẩu, với mức tăng 6,6% trong 7 tháng.
Với doanh nghiệp Việt Nam, giữ khách hàng lúc này phụ thuộc nhiều vào khả năng đáp ứng đơn hàng nhỏ, giao nhanh và kiểm soát chất lượng ổn định. Giá vẫn là yếu tố cạnh tranh gay gắt, nhưng khách hàng ngày càng quan tâm hơn đến xuất xứ, thời gian giao hàng và khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn mới.
Nút thắt nguyên phụ liệu
Ông Hồng cho rằng năng lực cạnh tranh của dệt may Việt Nam còn phụ thuộc vào quản trị, tay nghề lao động, công nghệ và nguồn nguyên phụ liệu. Trong đó, nguyên phụ liệu vẫn là khâu khiến doanh nghiệp khó chủ động hoàn toàn.
Việt Nam có lợi thế khá rõ ở khâu may. Lao động có tay nghề, doanh nghiệp đã quen với các yêu cầu kỹ thuật cao và nhiều đơn vị có khả năng tổ chức sản xuất tốt. Phần khó nằm ở vải, sợi và một số nguyên phụ liệu đầu vào vẫn phải phụ thuộc khá lớn vào nguồn cung bên ngoài.

Khách quốc tế khảo sát phụ liệu, mẫu vải và các giải pháp phục vụ sản xuất dệt may tại triển lãm
Bộ Công Thương nhiều năm qua cũng xác định phát triển công nghiệp hỗ trợ cho dệt may là một hướng quan trọng, đặc biệt ở các nhóm vải, sợi, phụ liệu và hóa chất. Việc tăng tỷ lệ nội địa hóa giúp doanh nghiệp bớt phụ thuộc nhập khẩu, chủ động hơn về nguồn cung và đáp ứng tốt hơn quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại.
Ông Hồng cho rằng cần thêm chính sách hỗ trợ đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu, đồng thời thu hút vốn nước ngoài vào những khâu Việt Nam còn yếu. Khi nguồn nguyên liệu trong nước tốt hơn, doanh nghiệp may sẽ chủ động hơn về thời gian, giá thành và khả năng nhận đơn hàng có yêu cầu xuất xứ chặt.
Công nghệ cũng đang được doanh nghiệp lựa chọn theo từng khâu. Ông Hồng lấy ví dụ các công đoạn như mổ túi, tra lưng, làm cổ có thể đưa thiết bị tự động vào để giảm lao động thủ công và ổn định chất lượng sản phẩm. Doanh nghiệp không thể cùng lúc thay toàn bộ dây chuyền, nhất là khi thị trường chưa ổn định và dòng tiền còn phải ưu tiên cho sản xuất. Khâu nào cần trước, hiệu quả rõ hơn thì làm trước.
Xu hướng này cũng thể hiện khá rõ trong các hoạt động xúc tiến ngành. Tại VTG 2026, các nhóm thiết bị tự động hóa, máy may hiệu suất cao, máy thêu vi tính, in kỹ thuật số, thiết bị kiểm nghiệm, vải chức năng, hóa chất nhuộm và các giải pháp hỗ trợ sản xuất được giới thiệu khá tập trung.
Khách hàng quốc tế hiện yêu cầu chặt hơn về xuất xứ, môi trường, chất lượng và khả năng truy xuất sản phẩm. Doanh nghiệp muốn giữ đơn hàng phải đáp ứng các tiêu chuẩn này, đồng thời chủ động hơn về nguyên phụ liệu để rút ngắn thời gian giao hàng và tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại.

Khách tham quan tìm hiểu các mẫu vải và vật liệu mới.
Vinatex cho rằng trong giai đoạn tới, doanh nghiệp cần tập trung nhiều hơn vào hiệu quả, biên lợi nhuận và chất lượng tăng trưởng. Với ngành may, trọng tâm không còn nằm ở việc có đủ đơn hàng bằng mọi giá, mà phải tính lại cơ cấu khách hàng, mặt hàng và cách tổ chức sản xuất để cải thiện hiệu quả.
Ông Hồng cũng cho rằng doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục chuyển đổi số và đầu tư công nghệ, nhưng tiến độ cần phù hợp với khả năng tài chính. Trong lúc thị trường còn khó, việc tìm đơn hàng và giữ lao động vẫn được đặt lên trước. Công nghệ sẽ tiếp tục được đầu tư, nhưng theo từng bước, từng khâu, phù hợp với sức của doanh nghiệp.
VTG 2026 quy tụ 500 gian hàng
Triển lãm Quốc tế lần thứ 24 về Máy móc thiết bị công nghiệp ngành Dệt và May tại Việt Nam năm 2026 (VTG 2026) diễn ra từ ngày 14-17/10 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), Tp.HCM. Sự kiện quy tụ 400 thương hiệu toàn cầu, 500 gian hàng trên diện tích 15.000 m², với doanh nghiệp đến từ 11 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm Bangladesh, Bulgaria, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.
VTG 2026 được tổ chức đồng thời với VFM 2026 về máy móc và nguyên phụ liệu da giày, VITATEX 2026 về dệt may và phụ liệu, DYECHEM 2026 về hóa chất và nhuộm. Tổ hợp triển lãm giới thiệu các nhóm thiết bị từ máy may, máy thêu vi tính, in kỹ thuật số trên vải đến thiết bị kiểm nghiệm, hóa chất nhuộm, vải chức năng, phụ liệu và các giải pháp hỗ trợ sản xuất.
Chuỗi hội thảo diễn ra trong ba ngày, tập trung vào kinh tế tuần hoàn, chuỗi cung ứng dệt may trước biến động địa chính trị và thuế quan, chuyển đổi số trong quản lý tuân thủ, cùng khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam khi chuỗi cung ứng châu Á thay đổi.
Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/det-may-viet-nam-xoay-xo-giu-don-hang-d70458.html

