Định mức mới cho vùng dược liệu
Việc UBND thành phố quy định định mức kinh tế - kỹ thuật cho 7 loài cây dược liệu đang được các địa phương kỳ vọng như một căn cứ để tính đúng chi phí, tổ chức lại sản xuất, chuẩn hóa kỹ thuật khi mở rộng diện tích để phát triển trong những năm tới.

Lãnh đạo xã Đông Giang khảo sát mô hình trồng ba kích tím của anh BNướch Ngang (thôn A Duông, xã Đông Giang). Ảnh: PHAN VINH
Theo Quyết định số 150/2026/QĐ-UBND của UBND thành phố, định mức cây giống trồng mới được quy định cho 7 loài dược liệu cụ thể như: sa nhân tím 3.000 cây/ha, quế 5.000 cây/ha, chè dây 6.500 cây/ha, ba kích 7.000 cây/ha, đảng sâm và bảy lá một hoa 10.000 cây/ha, riêng đương quy 80.000 cây/ha.
Quyết định đồng thời quy định cụ thể định mức phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học, nhân công cho các khâu trồng mới và chăm sóc. Chè dây và đảng sâm có tỷ lệ cây giống trồng dặm bằng 10% lượng giống trồng mới. Quyết định có hiệu lực từ ngày 27/10/2026.
Tổ chức vùng nguyên liệu
Hơn 10 năm nay, ông Phạm Quốc Phòng (thôn Panan, xã Sông Vàng) dành phần lớn diện tích sản xuất của gia đình cho cây chè dây. Vườn của ông rộng khoảng 2,5ha, thu hái từ tháng 3 đến tháng 10.
Theo ông Phòng, cây được chăm sóc tốt có thể cho lứa khai thác đầu tiên sau khoảng 4 - 5 tháng. Trong mô hình thử nghiệm giai đoạn 2018 - 2020, mật độ trồng khoảng 20.000 cây giống/ha. Với 1ha, sản lượng nguyên liệu tươi mỗi năm có thể đạt khoảng 10 tấn.
Từ nguồn nguyên liệu trong vườn, gia đình ông Phòng đã làm các sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3 sao như chè dây búp, chè dây hoa hồng.
“Làm lâu năm thì mình hiểu cây hơn, biết thời điểm nào nên thu hái, cách chăm ra sao để nguyên liệu đạt chất lượng tốt. Thời gian tới, nếu điều kiện về giống, kỹ thuật và đầu ra ổn định hơn, gia đình tôi cũng tính chuyện mở rộng thêm diện tích, đồng thời tập trung làm sản phẩm bài bản hơn để nâng giá trị chè dây thay vì chỉ bán nguyên liệu”, ông Phòng nói.

Ông Phạm Quốc Phòng (thôn Panan, xã Sông Vàng) đã trồng chè dây trên diện tích 2,5ha từ 10 năm qua. Ảnh: HỒ QUÂN
Theo ông Lê Văn Tư, Chủ tịch UBND xã Sông Vàng, chè dây Razeh đã gắn với đời sống đồng bào Cơ Tu ở Sông Vàng nhiều năm. Trước đây, người dân chủ yếu thu hái, sơ chế theo kinh nghiệm rồi bán nguyên liệu cho thương lái, cơ sở đông dược. Những năm gần đây, xã khôi phục diện tích, phát triển trồng tập trung, cải tạo vườn tạp và trồng dưới tán rừng, đồng thời hỗ trợ giống, phân bón, tập huấn kỹ thuật.
Vừa qua, Quyết định số 150/2026/QĐ-UBND quy định chè dây trồng mới 6.500 cây giống/ha, cây trồng dặm bằng 10% lượng giống ban đầu, kèm định mức phân bón, chế phẩm sinh học và nhân công cho từng công đoạn. Địa phương kỳ vọng định mức mới giúp việc lập dự toán và tổ chức mô hình rõ hơn, nhất là với những mô hình sử dụng vốn ngân sách hoặc chương trình mục tiêu quốc gia.
Theo ông Tư, khi có định mức cụ thể, địa phương dễ xác định quy mô, nguồn lực và hướng dẫn người dân thực hiện. Sông Vàng sẽ từng bước tổ chức lại các hộ trồng chè theo quy trình chung, tạo vùng nguyên liệu có sản lượng, chất lượng đồng đều hơn, rồi kết nối với cơ sở chế biến và đơn vị thu mua để người dân yên tâm đầu tư lâu dài.
“Địa phương cũng đang tính chuyện củng cố các nhóm hộ trồng chè, hoàn thiện kỹ thuật ủ lên men, sấy, đóng gói và xây dựng nhãn hiệu “Chè dây Razeh Sông Vàng”. Giống thuần chủng, thiết bị sơ chế và đầu ra ổn định là những phần việc xã muốn chuẩn bị sớm khi diện tích được mở rộng”, ông Tư nói.
Phát triển dược liệu bền vững
Ông Nguyễn Thanh Tân, Phó Chủ tịch UBND xã Đông Giang cho biết, địa phương hiện có khoảng 130ha quế, trong đó gần 70ha trồng theo hình thức liên kết từ các năm 2023 - 2024. Khoảng 15 - 20ha do người dân tự đầu tư đã đến kỳ khai thác, sản phẩm chủ yếu bán qua thương lái.
Với ba kích tím, toàn xã có hơn 35ha, một phần đã cho thu hoạch, giá bán bình quân hơn 400 nghìn đồng/kg. Người dân có thể tự tìm đầu ra và địa phương chủ động được nguồn giống.

Lãnh đạo xã Trà Leng kiểm tra vườn ươm quế giống trên địa bàn xã. Ảnh: Địa phương cung cấp
“Với định mức 5.000 cây quế/ha giúp địa phương thuận lợi trong việc tính giống, vật tư và kinh phí hỗ trợ, sát hơn với thực tế sản xuất. Chúng tôi mong thành phố sớm có hướng dẫn kỹ thuật cụ thể cho từng loại cây. Với quế cần rõ từ tiêu chuẩn cây giống, làm đất, chăm sóc những năm đầu đến thời điểm khai thác. Với ba kích tím cần hướng dẫn về đất trồng, độ che bóng, kỹ thuật cho cây leo và thu hoạch”, ông Tân nói.
Trong khi đó, tại xã Trà Leng, vùng quế đã có quy mô lớn hơn. Toàn xã có 3.958ha đất trồng quế, trong đó khoảng 1.500ha đã được trồng, sản lượng quế vỏ khai thác hằng năm khoảng 100 - 150 tấn. Đầu ra sản phẩm chủ yếu qua các hộ kinh doanh trên địa bàn, chưa có doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm. Xã đặt chỉ tiêu mỗi năm trồng mới khoảng 150.000 - 200.000 cây, hướng đến vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu.
Ông Nguyễn Hải Đồng, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Leng cho biết, định mức 5.000 cây/ha giúp địa phương có căn cứ rõ hơn để xây dựng mô hình, hỗ trợ giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật. Với địa hình miền núi, khâu chọn giống, trồng và chăm sóc vẫn cần được hướng dẫn kỹ để người dân dễ áp dụng.
Năm 2025, từ nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, Trà Leng thực hiện dự án liên kết với hợp tác xã, đưa khoảng 1,6 triệu cây giống quế xuống các thôn. Xã sau đó hỗ trợ hình thành Hợp tác xã Nông nghiệp và sinh thái Quế Trà Leng. Hợp tác xã đã chế biến bột quế, tinh dầu quế, hai sản phẩm đang chờ đánh giá, công nhận OCOP 3 sao.
“Với định mức được quy định tại Quyết định số 150/2026/QĐ-UBND của UBND thành phố, địa phương có cơ sở để xây dựng các mô hình trồng quế, đồng thời tập trung nguồn lực hỗ trợ giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật cho người dân. Điều Trà Leng cần thêm là hướng dẫn kỹ từ khâu chọn giống, trồng đến chăm sóc, bởi địa hình và tập quán canh tác của bà con có những đặc thù riêng”, ông Đồng cho biết thêm.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dinh-muc-moi-cho-vung-duoc-lieu-3356244.html
