Đo lường đầy đủ hơn chất lượng và thành quả tăng trưởng
Mới đây, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn yêu cầu ngành thống kê nghiên cứu, công bố và khai thác hiệu quả chỉ tiêu Tổng thu nhập quốc gia (GNI) nhằm phản ánh thực chất hơn mức độ người dân được thụ hưởng thành quả tăng trưởng. Định hướng này không chỉ đặt ra yêu cầu hoàn thiện việc sử dụng GNI, mà còn hướng tới triển khai đồng bộ, đầy đủ nhóm tài khoản hiện hành để đánh giá đầy đủ hơn chất lượng tăng trưởng và mức độ lan tỏa của thành quả phát triển đến người dân.

Ngành thống kê đang giải quyết các thách thức kỹ thuật để khai thác hiệu quả hơn chỉ tiêu GNI. Ảnh: THÙY ANH
Từ quy mô tạo ra của cải đến nguồn lực thực sự được giữ lại
Trong nhiều năm qua, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) luôn giữ vai trò là thước đo trung tâm khi đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, với một nền kinh tế có độ mở lớn, thu hút mạnh dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như Việt Nam, GDP chưa thể phản ánh đầy đủ bức tranh về phân phối thu nhập cũng như chất lượng tăng trưởng.
Theo ông Lê Trung Hiếu - Phó Cục trưởng Cục Thống kê, cần phân biệt rõ góc độ phản ánh của GDP và Tổng thu nhập quốc gia (GNI). Nếu GDP đo lường quy mô giá trị gia tăng được tạo ra trên lãnh thổ kinh tế Việt Nam, trả lời cho câu hỏi nền kinh tế tạo ra bao nhiêu của cải, thì GNI phản ánh phần thu nhập thực sự thuộc về các chủ thể thường trú sau khi tính đến các dòng thu nhập từ yếu tố sản xuất, gồm vốn và lao động, với nước ngoài.
Đối với Việt Nam, sự khác biệt giữa GDP và GNI thể hiện khá rõ do nền kinh tế có độ mở lớn và thu hút nhiều vốn FDI. Giá trị tăng thêm do các doanh nghiệp FDI tạo ra trên lãnh thổ Việt Nam được tính vào GDP, nhưng phần thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài khi chuyển về nước sẽ là khoản phải trả cho nước ngoài và được khấu trừ khi tính GNI.
Năm 2025, khu vực FDI đóng góp khoảng 20,1% GDP, trong khi thu nhập theo yếu tố phải trả cho nước ngoài tương đương khoảng 3,9% GDP. Ở chiều ngược lại, thu nhập của người lao động Việt Nam làm việc có thời hạn ở nước ngoài gửi về đóng góp khoảng 1,1% GDP và được cộng vào GNI.
Ông Lê Trung Hiếu lưu ý, cần phân biệt khoản thu nhập này với kiều hối của người Việt Nam định cư lâu dài ở nước ngoài gửi về. Khoản kiều hối này được xếp vào chuyển nhượng hiện hành, không tính vào GNI mà được phản ánh ở chỉ tiêu Thu nhập quốc gia khả dụng (NDI) - nguồn lực thực tế có thể sử dụng cho tiêu dùng và tích lũy.
Do dòng lợi nhuận chuyển ra của khu vực FDI lớn hơn dòng thu nhập từ lao động gửi về, trong giai đoạn 2010-2025, tỷ lệ GNI so với GDP của Việt Nam thường dao động trong khoảng 93-96%. Đây là đặc điểm bình thường và phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển thu hút mạnh nguồn vốn FDI.
Từ góc độ này, GNI có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung thông tin cho GDP, giúp đánh giá không chỉ quy mô giá trị được tạo ra trên lãnh thổ mà còn phần thu nhập thực sự thuộc về các chủ thể thường trú.
Giải bài toán dữ liệu để GNI đồng hành cùng GDP
Dù GNI có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá chất lượng tăng trưởng, GDP vẫn được công bố và sử dụng phổ biến hơn do đáp ứng tốt yêu cầu quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn.
Theo ông Lê Trung Hiếu, GDP được biên soạn theo quý, phân tổ chi tiết theo ngành kinh tế và từng địa phương thông qua chỉ tiêu GRDP, qua đó bảo đảm tính kịp thời và khả năng so sánh quốc tế. Trong khi đó, GNI không thể tính theo quý hay cho từng địa phương. Lý do là các khoản lợi nhuận, cổ tức của nhà đầu tư nước ngoài thường chỉ được xác định đầy đủ theo năm. Mặt khác, GNI là chỉ tiêu cấp quốc gia bởi dòng thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài chuyển ra được xác định khi ra hoàn toàn khỏi biên giới quốc gia chứ không phải ra khỏi ranh giới hành chính của từng tỉnh, thành phố.
Để khai thác hiệu quả hơn chỉ tiêu GNI và từng bước hoàn thiện đầy đủ tài khoản hiện hành, ngành thống kê đang phải giải quyết một số thách thức kỹ thuật. Trước hết là sự phân tán của nguồn dữ liệu. Việc tính toán chính xác đòi hỏi kết nối đồng bộ dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước, cơ quan thuế, hải quan, tài chính đến bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở chia sẻ dữ liệu mà còn ở việc chuẩn hóa khái niệm, bảo đảm tính thống nhất giữa các hệ thống.
Thách thức thứ hai là tài khoản hiện hành cần được biên soạn theo khu vực thể chế. Khu vực thể chế là phân tổ mới tại Việt Nam nhưng lại phổ biến trong hệ thống thống kê quốc tế và được hầu hết các nước áp dụng. Khu vực thể chế chỉ rõ vai trò, chức năng, thu nhập của từng khu vực như doanh nghiệp phi tài chính, doanh nghiệp tài chính, hộ gia đình, Chính phủ, nước ngoài theo chuẩn mực quốc tế. Để lập được tài khoản hiện hành đòi hỏi hạ tầng dữ liệu phải có mức độ chi tiết cao.
Thứ ba là độ phức tạp của các dòng thu nhập đối ngoại. Các dòng lợi nhuận FDI, lãi vay hay thu nhập đầu tư quốc tế đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đồng thời yêu cầu năng lực chuyên môn cao trong quá trình tổng hợp và đối chiếu số liệu.
Trước những yêu cầu này, ngành thống kê đang từng bước hiện đại hóa hạ tầng dữ liệu, tăng cường khai thác dữ liệu hành chính, hoàn thiện phân loại đơn vị thể chế và mở rộng chia sẻ dữ liệu với các Bộ, ngành liên quan. Đây là nền tảng để nâng cao chất lượng GDP, GNI và từng bước hoàn thiện đầy đủ các cấu phần của tài khoản hiện hành theo khu vực thể chế.
Từ đo lường tăng trưởng đến đánh giá mức độ người dân thụ hưởng thành quả phát triển
Theo ông Lê Trung Hiếu, chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn không chỉ nhằm khai thác hiệu quả hơn chỉ tiêu GNI, mà quan trọng hơn là từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê để đánh giá tăng trưởng gắn với thu nhập và đời sống người dân.
GNI phản ánh thu nhập của các đơn vị thường trú nhưng không đồng nhất với thu nhập của hộ gia đình và cũng không cho biết trực tiếp thành quả tăng trưởng được phân phối như thế nào. Việc tiếp tục xây dựng tài khoản phân phối và sử dụng thu nhập theo chuẩn mực SNA là hướng đi quan trọng, nhưng đòi hỏi thời gian, dữ liệu và quá trình chuẩn hóa phương pháp.
Trong ngắn hạn, Việt Nam đã có một nguồn dữ liệu quan trọng là Khảo sát mức sống dân cư, được thực hiện định kỳ hằng năm (riêng số liệu về chi tiêu được thực hiện 2 năm/lần vào năm chẵn). Khi kết hợp số liệu về thu nhập, chi tiêu và phân phối thu nhập với GDP, GNI, việc làm và giá cả, có thể đánh giá rõ hơn tăng trưởng kinh tế đã chuyển hóa vào đời sống người dân như thế nào, các nhóm thu nhập thay đổi ra sao và khoảng cách thu nhập có được thu hẹp hay không?
Đây là hướng tiếp cận cần được thực hiện từng bước, trước mắt khai thác tốt các nguồn dữ liệu hiện có, đồng thời tiếp tục hoàn thiện dữ liệu và phương pháp để từng bước xây dựng hệ thống tài khoản thu nhập theo chuẩn mực quốc tế. Qua đó, thống kê không chỉ phản ánh nền kinh tế tăng trưởng bao nhiêu mà còn cung cấp thêm cơ sở đánh giá chất lượng tăng trưởng và mức độ lan tỏa của thành quả phát triển đến người dân.
“Mục tiêu cuối cùng không chỉ là đo nền kinh tế tăng trưởng bao nhiêu, mà quan trọng hơn là đánh giá được tăng trưởng đã chuyển hóa như thế nào thành thu nhập, việc làm và cải thiện đời sống của người dân” - Phó Cục trưởng Cục Thống kê Lê Trung Hiếu nhấn mạnh./.











