Doanh nghiệp nhà nước: Động lực dẫn dắt và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trải qua hơn 40 năm Đổi mới, từ giai đoạn quản lý bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước dù giảm về số lượng nhưng không ngừng nâng cao về quy mô và hiệu quả. Vượt lên trên mục tiêu lợi nhuận thuần túy, doanh nghiệp nhà nước khẳng định vị thế không thể thay thế khi đảm nhận các sứ mệnh kinh tế - xã hội quan trọng, làm trụ đỡ vững chắc cho toàn bộ hệ thống kinh tế...

Nguồn: Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 39-2026
Theo số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, giai đoạn 1975–1985, cả nước có trên 10.000 cơ sở kinh tế nhà nước hiện diện trên hầu hết các lĩnh vực, vận hành theo cơ chế bao cấp hiện vật nên dần bộc lộ sự trì trệ. Khi bước sang thời kỳ Đổi mới, thực hiện chính sách cắt giảm bao cấp và sắp xếp lại bộ máy, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm mạnh từ 3.020 doanh nghiệp năm 1989 xuống còn 2.170 doanh nghiệp vào năm 1994. Tuy nhiên, nhờ tinh thần chủ động sáng tạo và tái cấu trúc toàn diện, kinh tế nhà nước đã nhanh chóng thích ứng và lấy lại đà tăng trưởng mạnh mẽ.
Tính theo giá so sánh năm 2010, giá trị tăng thêm (VA) của khu vực kinh tế nhà nước năm 1986 chỉ đạt 174,33 nghìn tỷ đồng, nhưng đến năm 2025 ước tính đạt 1.353,15 nghìn tỷ đồng, gấp 8,72 lần so với năm 1986 với tốc độ tăng trưởng bình quân 5,71%/năm trong suốt giai đoạn 1987–2025.
Dù tỷ trọng kinh tế nhà nước trong GDP có xu hướng điều chỉnh giảm từ 36,58% (năm 1986) xuống khoảng 20,89% (năm 2025) do sự bứt phá của khu vực tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), quy mô tuyệt đối của khối này vẫn không ngừng mở rộng và tập trung vào những ngành xương sống, giữ vị trí then chốt của nền kinh tế.
TẠO NỀN TẢNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ
Các doanh nghiệp nhà nước hiện nay không còn hiện hữu tràn lan ở các ngành dịch vụ nhỏ lẻ hay thương mại bán buôn, bán lẻ như trước, mà tập trung làm nhiệm vụ mở đường, gánh vác hạ tầng và kiến tạo môi trường phát triển cho các thành phần kinh tế khác.
Sự vững vàng của khối doanh nghiệp nhà nước trong các ngành chiến lược chính là một trong những yếu tố quyết định giúp nền kinh tế Việt Nam duy trì sự ổn định trước những biến động địa chính trị và khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Trong ngành an ninh năng lượng, các tập đoàn kinh tế nhà nước hàng đầu, như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), bảo đảm nguồn cung năng lượng, nhiên liệu ổn định, liên tục cho toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của hàng triệu doanh nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của người dân.
Trong lĩnh vực hạ tầng kết nối và viễn thông, các đơn vị như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) giữ vai trò chủ lực trong việc phát triển hạ tầng mạng lưới viễn thông phủ sóng toàn quốc, đồng thời đóng vai trò hạt nhân đi đầu trong công cuộc chuyển đổi số quốc gia và xây dựng chính phủ điện tử. Trong cơ cấu GDP, ngành thông tin và truyền thông đã nâng dần tỷ trọng đóng góp từ mức 1,22% lên trên 3,26 - 4,39% trong những năm gần đây.

Với lĩnh vực tài chính – ngân hàng, các ngân hàng thương mại cổ phần có vốn Nhà nước chi phối (Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV) giữ vai trò chủ đạo trong việc cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế, góp phần đưa tỷ trọng ngành hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm từ 1,22% GDP năm 1986 lên ước tính 4,80% GDP năm 2025. Khối ngân hàng nhà nước không chỉ thực hiện hiệu quả các chính sách tín dụng ưu đãi mà còn là công cụ điều tiết lãi suất, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia.
Đặc biệt, không chỉ vận hành theo mục tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp nhà nước còn là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô hiệu quả của Nhà nước. Trong các giai đoạn biến động giá cả năng lượng hay nguyên vật liệu thế giới, doanh nghiệp nhà nước đã chủ động gánh vác trách nhiệm bình ổn giá hàng hóa thiết yếu, giảm thiểu tác động tiêu cực của lạm phát.
Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước tiên phong cung cấp dịch vụ công cộng, phủ sóng điện, viễn thông, xây dựng đường giao thông tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo – những địa bàn có chi phí cao, khả năng sinh lời thấp mà khu vực tư nhân khó tiếp cận, góp phần bảo vệ an ninh - quốc phòng và xóa đói giảm nghèo.
Với việc chi phối các ngành then chốt này, doanh nghiệp nhà nước tạo ra nền tảng hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ thiết yếu, giúp giảm chi phí đầu vào cho các thành phần kinh tế khác, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài (FDI) cùng phát triển.
ĐỘNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ ĐÓNG GÓP NGÂN SÁCH
Về mặt hiệu quả nguồn lực, dù số lượng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, khối doanh nghiệp nhà nước lại nắm giữ nguồn tài sản, vốn góp rất lớn và đóng góp quan trọng cho ngân sách quốc gia.
Hàng năm, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nộp hàng trăm nghìn tỷ đồng vào Ngân sách Nhà nước thông qua các khoản thuế, phí và lợi nhuận sau thuế. Nguồn thu này tạo nguồn lực tài chính chiến lược để Nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, nâng tỷ trọng đóng góp của các ngành dịch vụ công như giáo dục - đào tạo (đạt khoảng 3,88% GDP) và y tế - trợ giúp xã hội (đạt khoảng 2,95% GDP năm 2025). Bên cạnh đó, khối doanh nghiệp nhà nước còn bảo đảm việc làm ổn định, thực hiện nghiêm ngặt các chính sách phúc lợi và an toàn lao động cho hàng triệu công nhân viên.
Trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, doanh nghiệp nhà nước đang chuyển mình trở thành lực lượng dẫn dắt về công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các tập đoàn lớn như Viettel, VNPT, Petrovietnam… đã đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và phát triển (R&D), chủ động làm chủ công nghệ cao, sản xuất thiết bị viễn thông, phần mềm quản lý, phát triển năng lượng tái tạo và giải pháp xanh, đồng thời vươn tầm đầu tư ra thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, khu vực kinh tế nhà nước vẫn đứng trước không ít rào cản và thách thức lớn; tiến độ cổ phần hóa và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước còn chậm, giai đoạn 2021–2025 chỉ đạt khoảng 16% so với kế hoạch đề ra; việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành tại một số đơn vị còn chậm, hiệu quả sử dụng nguồn lực vốn và đất đai ở một số nơi chưa tương xứng với tiềm năng; vai trò dẫn dắt, mở đường và tạo hiệu ứng lan tỏa để các thành phần kinh tế khác cùng phát triển trong một số lĩnh vực vẫn chưa đạt như kỳ vọng…
NHỮNG MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC TRONG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN MỚI
Để khắc phục các điểm nghẽn và bứt phá trong bối cảnh mới, Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển khu vực kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW ban hành ngày 6/1/2026) đã đặt ra những mục tiêu cốt lõi và lộ trình rõ ràng.
Một là, đổi mới mô hình quản trị và nâng cao hiệu quả hoạt động. Phấn đấu đến năm 2030, 100% các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoàn thành áp dụng mô hình quản trị hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế (OECD); cơ bản giải quyết dứt điểm các dự án yếu kém, thua lỗ kéo dài.
Hai là, tập trung nguồn lực vào các ngành mũi nhọn. Tái cấu trúc không dàn trải, đưa dòng vốn nhà nước tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng chiến lược, năng lượng mới, công nghệ cao, bán dẫn, chuyển đổi số và các ngành công nghiệp nền tảng mà khu vực tư nhân chưa đủ năng lực đầu tư.
Ba là, phát huy vai trò mở đường và dẫn dắt. Hình thành các tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh và năng lực cạnh tranh quốc tế, giữ vai trò “sếu đầu đàn” kết nối, hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bốn là, hoàn thiện thể chế quản lý vốn nhà nước. Cơ cấu lại quy trình quản lý, tách bạch rõ ràng chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước với chức năng quản lý nhà nước và quản trị kinh doanh của doanh nghiệp; giao quyền tự chủ tối đa gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát công khai, minh bạch.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 39-2026 phát hành ngày 28/09/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-39-2026.html




