Đọc sách, học ngoại ngữ có thể giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer
Một nghiên cứu mới đã phát hiện ra rằng những người tham gia vào các hoạt động học tập suốt đời, chẳng hạn như đọc, viết và học ngoại ngữ mới, có thể giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer...

Các nghiên cứu trước đây cho thấy người lớn tuổi có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bằng cách lựa chọn lối sống lành mạnh, chẳng hạn như giữ cho não bộ hoạt động tích cực. Một nghiên cứu mới đã phát hiện ra rằng những người tham gia vào các hoạt động học tập suốt đời, chẳng hạn như đọc, viết và học ngoại ngữ mới, có thể giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và làm chậm quá trình suy giảm nhận thức.
Các nhà nghiên cứu ước tính rằng có khoảng 32 triệu người trên thế giới đang sống chung với bệnh Alzheimer - một loại sa sút trí tuệ ảnh hưởng tiêu cực đến trí nhớ và khả năng hiểu biết của người bệnh.
Hiện tại, các bác sĩ không phải lúc nào cũng có thể dự đoán được một người sẽ mắc bệnh Alzheimer hay không. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy người lớn tuổi có thể giảm nguy cơ mắc bệnh bằng cách lựa chọn lối sống lành mạnh, chẳng hạn như ăn uống tốt cho não bộ, tập thể dục đầy đủ, quản lý căng thẳng và giữ cho não bộ hoạt động tích cực.
Ví dụ, nghiên cứu trước đây cho thấy việc tham gia vào một số hoạt động kích thích não bộ, như giải câu đố, đọc sách, khiêu vũ, làm vườn hoặc chơi nhạc cụ, có thể giúp làm chậm quá trình suy giảm nhận thức khi một người già đi.
Giờ đây, một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Neurology, tạp chí y khoa của Học viện Thần kinh học Hoa Kỳ, đã phát hiện ra rằng những người tham gia vào các hoạt động học tập suốt đời, chẳng hạn như đọc, viết và học ngoại ngữ mới, có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và làm chậm quá trình suy giảm nhận thức.
Học tập suốt đời và nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ
Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã tuyển chọn gần 2.000 người có độ tuổi trung bình là 80, những người không được chẩn đoán mắc chứng mất trí nhớ khi bắt đầu nghiên cứu. Những người tham gia được yêu cầu hoàn thành các cuộc khảo sát về các hoạt động liên quan đến não bộ và học tập trước tuổi 18, ở tuổi 40 và khoảng tuổi 80.
Một số câu hỏi khảo sát hỏi về việc tiếp cận sách, báo và tạp chí, cũng như học ngoại ngữ, viết, chơi trò chơi và tần suất đến các địa điểm học tập như bảo tàng và thư viện.
“Suy giảm nhận thức là một trong những khía cạnh đáng sợ nhất của tuổi già, Tiến sĩ Andrea Zammit, nhà thần kinh học tại Trung tâm Rush về Bệnh Alzheimer và trợ lý giáo sư tại Khoa Tâm thần và Khoa học Hành vi tại Đại học Rush ở Chicago, đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu này, chia sẻ với Medical News Today.
“Việc tìm ra các yếu tố về lối sống có thể điều chỉnh được nhằm giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ do bệnh Alzheimer và làm chậm quá trình suy giảm nhận thức là rất quan trọng bởi vì những hành vi này có thể trở thành thói quen hoặc một phần của cuộc sống hàng ngày, mang đến cho mọi người những cách thiết thực để duy trì sức khỏe nhận thức khi về già', Tiến sĩ Zammit nói.
“Phần lớn các nghiên cứu hiện có tập trung vào sự tương tác về nhận thức ở tuổi già, nhưng tình yêu đối với việc học tập suốt đời thường được nuôi dưỡng từ sớm", bà tiếp tục. “Các hoạt động ở tuổi già chỉ nắm bắt được một phần nhỏ trong những trải nghiệm suốt đời tạo nên nguy cơ và khả năng phục hồi trong não bộ khi về già. Tôi nghĩ rằng, khi có thể, điều cần thiết là nghiên cứu cách những trải nghiệm trong suốt cuộc đời định hình kết quả lâu dài".
Trau dồi kiến thức suốt đời làm chậm và giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer
Các nhà khoa học đã theo dõi những người tham gia nghiên cứu trong trung bình 8 năm. Khi kết thúc nghiên cứu, họ nhận thấy rằng những người tham gia có mức độ học tập suốt đời cao nhất mắc bệnh Alzheimer muộn hơn 5 năm và bị suy giảm nhận thức dạng nhẹ muộn hơn 7 năm so với những người có mức độ học tập suốt đời thấp nhất.
“Đây là những khác biệt có ý nghĩa", Zammit giải thích: “Sự chậm trễ từ 5 đến 7 năm có thể đồng nghĩa với việc sống độc lập thêm vài năm, điều mà nhiều người lớn tuổi rất coi trọng. Ngay cả những thay đổi nhỏ về thời điểm khởi phát suy giảm cũng có thể có tác động đáng kể ở cả cấp độ cá nhân và cộng đồng".
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người tham gia nghiên cứu có điểm số cao hơn về việc trau dồi kiến thức suốt đời có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer thấp hơn 38% và nguy cơ bị suy giảm nhận thức nhẹ thấp hơn 36% so với những người ở mức thấp nhất.
“Những phát hiện này cho thấy rằng việc duy trì hoạt động nhận thức trong suốt cuộc đời có liên quan đáng kể đến nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và suy giảm nhận thức nhẹ thấp hơn", Zammit nói: “Tác động tích lũy của việc làm giàu nhận thức qua nhiều thập kỷ có thể quan trọng hơn đối với kết quả lâm sàng ở tuổi già so với những lợi ích ngắn hạn".
“Điểm mấu chốt rút ra từ kết quả nghiên cứu này là sức khỏe nhận thức ở tuổi già được hình thành bởi cả cuộc đời tiếp xúc với những trải nghiệm làm giàu nhận thức", bà nói thêm: “Mặc dù phát hiện của chúng tôi cho thấy việc làm giàu nhận thức ở nhiều thời điểm trong cuộc đời là quan trọng, nhưng việc duy trì điều này suốt đời có thể đặc biệt có lợi".
Cần kiểm chứng mối quan hệ nhân quả
Medical News Today đã có cơ hội trò chuyện với Bác sĩ Trịnh Dũng, bác sĩ nội khoa tại MemorialCare Medical Group và Giám đốc Y khoa của phòng khám Healthy Brain ở Irvine, California, về nghiên cứu này.
Bác sĩ Trịnh Dũng, người không tham gia vào nghiên cứu, nhận xét rằng phản ứng đầu tiên của ông đối với các phát hiện là nó củng cố điều mà ông thấy trong lâm sàng: Những người duy trì sự hoạt động trí óc suốt đời thường có vẻ duy trì được khả năng tư duy sắc bén hơn trong thời gian dài hơn.
“Điều đáng chú ý ở đây là quan điểm về suốt cuộc đời – việc làm giàu kiến thức không chỉ đơn thuần là tham gia một lớp học ở tuổi 75, mà còn bao gồm việc tiếp cận sách vở và tài nguyên học tập từ sớm và duy trì sự hứng thú đó suốt tuổi trưởng thành. Nghiên cứu này không chứng minh rằng học tập suốt đời có thể ngăn ngừa bệnh Alzheimer, nhưng mức độ liên quan và ý tưởng rằng sự khởi phát có thể bị trì hoãn vài năm khiến nó trở thành một tín hiệu có ý nghĩa đáng được xem xét nghiêm túc", Bác sĩ Trịnh Dũng cho biết.
“Vì nguy cơ mắc bệnh Alzheimer bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, và chúng ta không có một phương pháp chữa trị duy nhất hiệu quả cho tất cả mọi người", ông tiếp tục: “Lối sống và môi trường là những nơi mà mọi người có thể thực hiện những thay đổi thực tế – thường bắt đầu từ rất lâu trước khi các triệu chứng xuất hiện. Ngay cả những thay đổi nhỏ giúp trì hoãn các triệu chứng vài năm cũng có thể tác động rất lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và gia đình, cũng như hệ thống y tế".
“Ngoài ra, các chiến lược về lối sống thường đi kèm với những lợi ích bổ sung – sức khỏe tim mạch tốt hơn, tâm trạng tốt hơn, kết nối xã hội tốt hơn – vì vậy chúng là một phần ‘lợi ích cao, rủi ro thấp’ đối với sức khỏe não bộ", bác sĩ TrịnhDũng nói thêm.
Đối với các bước tiếp theo của nghiên cứu này, ông cho biết có ba điều ông muốn thấy.
“Thứ nhất, chúng ta cần những nghiên cứu kiểm chứng trực tiếp hơn về mối quan hệ nhân quả — những can thiệp được thiết kế tốt nhằm tăng cường khả năng tiếp cận các hoạt động bổ ích và theo dõi kết quả nhận thức theo thời gian", ông giải thích chi tiết.
“Thứ hai, chúng ta nên phân tích xem những yếu tố nào của việc làm giàu kiến thức là quan trọng nhất và vào thời điểm nào — giai đoạn đầu đời, trung niên, hay cuối đời — bởi vì điều đó cho chúng ta biết nên đầu tư thời gian và nguồn lực vào đâu. Thứ ba, chúng ta cần các nhóm đối tượng đa dạng hơn, để biết những phát hiện này có thể áp dụng được ở các cộng đồng và hoàn cảnh kinh tế xã hội khác nhau hay không. Nếu khả năng tiếp cận là một phần của yếu tố bảo vệ, thì sự đại diện thực sự rất quan trọng”, Bác sĩ Trịnh Dũng kết luận.












