Dữ liệu sản xuất: Chìa khóa nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản
Khi thị trường xuất khẩu ngày càng yêu cầu cao về tính minh bạch, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và phát triển bền vững, mỗi sản phẩm có 'hồ sơ số' về vùng trồng và quy trình canh tác sẽ giúp chuỗi sản xuất minh bạch, đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.
Ứng dụng công nghệ để làm chủ dữ liệu sản xuất
Hơn 15 năm tham gia liên kết sản xuất chanh dây với Công ty CP Nafoods Tây Nguyên (phường An Phú), anh Trần Văn Hà (phường An Phú) nhận thấy hiệu quả mang lại ngày càng rõ nét. Sản phẩm chanh dây của gia đình đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính ở châu Âu, nhất là từ khi được DN hướng dẫn thực hiện truy xuất nguồn gốc vào năm 2022.

Nhiều nông dân từng bước chuyển từ tư duy sản xuất truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu, tiêu chuẩn và công nghệ. Ảnh: Vũ Thảo
Anh Hà chia sẻ: “Không còn làm theo kinh nghiệm, tôi từng bước làm quen với phương thức ứng dụng công nghệ vào sản xuất như quản lý bằng dữ liệu số từ ghi chép nhật ký sản xuất, cập nhật thông tin vùng trồng, theo dõi quá trình chăm sóc cây trồng trên điện thoại”.
Tương tự, gia đình ông Dương Xuân Dục (thôn Lập Thành, xã Ia Hrung) có 2 ha cà phê liên kết sản xuất với Nestlé Việt Nam. Tham gia chương trình liên kết, gia đình được hướng dẫn kỹ thuật canh tác bền vững, ghi chép nhật ký sản xuất và truy xuất nguồn gốc.
Nhờ đó, chất lượng cà phê nâng lên, chi phí được kiểm soát và đầu ra ổn định. “Ban đầu, tôi cũng bỡ ngỡ, nhưng khi quen rồi mới thấy rất thuận tiện. Mọi thông tin đều được lưu lại đầy đủ, giúp mình sản xuất đúng quy trình và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc” - ông Dục nói.
Từ việc chủ động ứng dụng công nghệ đến tham gia các chuỗi liên kết với DN, người nông dân đang từng bước chuyển từ tư duy sản xuất truyền thống sang tư duy quản trị dựa trên dữ liệu, tiêu chuẩn và công nghệ. Đây chính là những yếu tố cốt lõi để hình thành đội ngũ nông dân số.
Dữ liệu trở thành lợi thế cạnh tranh
Ông Thái Như Hiệp - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp (phường An Phú) cho rằng: Lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt trong giai đoạn mới không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm mà còn ở dữ liệu minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và vùng nguyên liệu được chuẩn hóa.
Gần 20 năm qua, DN đầu tư xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, đồng thời chuẩn bị các điều kiện để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe như quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Mạnh Hùng - Tổng Giám đốc Công ty CP Nafoods Group - cho biết: ruy xuất nguồn gốc không còn là yêu cầu mang tính đối phó để đáp ứng quy định của thị trường mà đã trở thành công cụ quản trị vùng nguyên liệu. Hiện Nafoods thí điểm số hóa vùng nguyên liệu chanh dây tại Gia Lai với sự tham gia của 3 HTX, DN liên kết cùng 150 hộ dân. Dữ liệu về vùng trồng, quy trình chăm sóc, sử dụng vật tư và thu hoạch đều được cập nhật trên nền tảng số.

Liên kết sản xuất góp phần phát triển bền vững ngành hàng cà phê. Ảnh: Vũ Thảo
Theo ông Hùng, khi dữ liệu được số hóa, DN có thể quản lý chất lượng đồng bộ, còn nông dân theo dõi quá trình sinh trưởng của cây trồng, nhận cảnh báo sâu bệnh và hướng dẫn kỹ thuật ngay trên điện thoại thông minh. Mô hình này giống như một “bệnh viện ảo” dành cho cây trồng, góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế rủi ro.
Với gần 977 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp và 9 vùng nguyên liệu cây trồng chủ lực (cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, mía, mì, sầu riêng, chuối, chanh dây), Gia Lai có nhiều điều kiện để xây dựng các vùng sản xuất minh bạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Mỗi lô hàng xuất khẩu không chỉ có nông sản mà còn có dữ liệu về vùng trồng, quy trình sản xuất và thu hoạch. Điều đó đồng nghĩa người nông dân phải tạo ra cả dữ liệu cho sản phẩm của mình.
Để đáp ứng yêu cầu đó, theo Kế hoạch số 272/KH-UBND của UBND tỉnh về đào tạo nghề nông nghiệp giai đoạn 2026-2030, Gia Lai đặt mục tiêu đào tạo khoảng 12.500 lao động nông thôn học nghề nông nghiệp; khoảng 1.500 lao động để hình thành đội ngũ nông dân số, nông dân chuyên nghiệp và cán bộ quản trị HTX hiện đại; phấn đấu trên 70% nông dân sau đào tạo tham gia liên kết chuỗi giá trị hoặc ứng dụng công nghệ số.
Ngoài kỹ thuật canh tác, người nông dân còn được trang bị kỹ năng quản lý dữ liệu sản xuất, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, quản trị HTX, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là điều kiện để nông sản Gia Lai đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản…













