Đưa khoa học, công nghệ từ phòng thí nghiệm vào sản xuất
Đưa công nghệ vào dây chuyền, quy trình và sản phẩm là điều kiện để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh.
Khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất
Từ đầu năm 2026 đến nay, Bộ Công Thương đã nhận được 287 nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết 57; trong đó 178 nhiệm vụ hoàn thành, 10 nhiệm vụ đang thực hiện đúng hạn và 99 nhiệm vụ thường xuyên.
Cùng với đó, 17 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được ban hành hoặc trình ban hành; phương án cắt giảm, đơn giản hóa hơn 55% thủ tục hành chính đã được phê duyệt. Những kết quả này cho thấy quá trình triển khai Nghị quyết 57 đang chú trọng mục tiêu, sản phẩm và hiệu quả thực tế.

Dữ liệu điện năng được ứng dụng trở thành công cụ quản trị nhà máy dệt may. Ảnh: Vinatex
Tuy nhiên, theo ông Hoàng Ninh, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số (Bộ Công Thương), thách thức lớn hơn là đưa công nghệ vào nhà máy, đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, biến dữ liệu thành giá trị và đổi mới sáng tạo thành năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh.
Ông Hoàng Ninh chỉ ra 3 tồn tại chính, gồm thể chế, nguồn lực - nhân lực và khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng. Trong đó, công nghệ phát triển nhanh, trong khi các quy định, quy trình liên quan đến nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao và ứng dụng vẫn chưa theo kịp.
Nếu không có nguồn lực tập trung đủ lớn, các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số khó đạt hiệu quả. Đồng thời, nguồn nhân lực phải đủ mạnh để tiếp nhận kết quả nghiên cứu, chuyển giao và vận hành công nghệ.
Đáng chú ý, doanh nghiệp chưa đủ nhân lực, nguồn lực và hạ tầng để tiếp nhận sản phẩm, giải pháp từ các viện, trường, dẫn đến không thể đưa sản phẩm đến thị trường.
Từ góc độ nghiên cứu và chuyển giao, ông Dương Đức Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu điện tử - tin học - tự động hóa, cho rằng, nhiều sản phẩm nghiên cứu mới chỉ dừng ở mô hình thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Để đánh giá hiệu quả, độ bền và khả năng vận hành ổn định, thiết bị cần được thử nghiệm trong thời gian dài tại nhà máy và đáp ứng yêu cầu sản xuất cụ thể.
Một khoảng cách khác nằm ở sự chưa tương thích giữa nhu cầu doanh nghiệp và công nghệ do đơn vị nghiên cứu đưa ra, gây khó khăn cho quá trình thử nghiệm và đánh giá hiệu quả.
Thực tế doanh nghiệp cũng cho thấy mức độ tiếp nhận công nghệ không đồng đều. Sau Nghị quyết 57, doanh nghiệp tích cực hơn trong chuyển đổi số, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ mới. Tuy nhiên, doanh nghiệp lớn có khả năng tiếp nhận hệ thống công nghệ đồng bộ trong khi doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu chuyển đổi theo từng công đoạn, tập trung vào số hóa dữ liệu.
Đặt bài toán công nghệ từ nhu cầu doanh nghiệp
Từ thực trạng trên, yêu cầu đặt ra không chỉ là có thêm nhiệm vụ nghiên cứu hay hoàn thành đúng tiến độ, mà phải tạo ra sản phẩm có khả năng ứng dụng. Theo ông Hoàng Ninh, cách tổ chức nhiệm vụ khoa học, công nghệ nên hướng vào những bài toán cần giải quyết và sản phẩm đầu ra có thể triển khai trên thực tế.
Cách tiếp cận cũng phải hướng tới mục tiêu, sản phẩm; đo lường hiệu quả, tạo ra giá trị. Đây là yêu cầu quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất.
Còn theo ông Dương Đức Anh, làm chủ công nghệ không chỉ là tiếp nhận, sử dụng và vận hành, mà còn phải có khả năng phát triển, bảo dưỡng, bảo trì và nâng cấp khi cần thiết.
Ở góc độ doanh nghiệp, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam vừa nâng cấp sản phẩm truyền thống, vừa phát triển các nhóm sản phẩm công nghệ mới gắn với công nghiệp bán dẫn và công nghệ chiến lược. Bà Nguyễn Thị Mai, Phó Trưởng ban Kỹ thuật Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho biết, Tập đoàn định hướng 5 nhóm sản phẩm mũi nhọn gồm: Hóa chất tinh khiết phục vụ điện tử, bán dẫn và công nghiệp công nghệ cao; pin lưu trữ năng lượng, hệ thống lưu trữ năng lượng và vật liệu điện cực; cao su kỹ thuật; sản phẩm đất hiếm và công nghiệp hóa dược.
Để tiếp cận và làm chủ công nghệ, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam tăng cường hợp tác với viện, trường và đối tác quốc tế về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; đồng thời chú trọng bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật, thu hút và trọng dụng nhân tài nhằm bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao.
Từ góc độ quản lý, ông Hoàng Ninh cho biết, thời gian tới ngành Công Thương tập trung hoàn thiện cơ chế và cách tổ chức nhiệm vụ khoa học, công nghệ; ưu tiên nguồn lực cho các nhiệm vụ có tác động lớn; đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu doanh nghiệp; nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp.
Trong đó, việc tập trung nguồn lực cho những nhiệm vụ có tác động lớn nhằm tránh dàn trải, đồng thời gắn nhiệm vụ với sản phẩm đầu ra có khả năng ứng dụng. Đào tạo nhân lực theo nhu cầu thực tế cũng giúp tăng khả năng tiếp nhận và vận hành công nghệ.
Theo định hướng này, hiệu quả của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được nhìn từ những kết quả cụ thể: Năng suất tăng, chi phí giảm, sản phẩm mới được hình thành và sức cạnh tranh được nâng lên. Khi kết quả nghiên cứu có địa chỉ ứng dụng, doanh nghiệp có năng lực tiếp nhận và các bên cùng tham gia ngay từ đầu, khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và nhà máy mới có thể được thu hẹp.
Với ngành Công Thương, yêu cầu đặt ra vì thế không dừng ở việc thúc đẩy nghiên cứu hay chuyển đổi số, mà hướng tới đưa công nghệ vào dây chuyền, quy trình và sản phẩm. Đây là điều kiện để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo Báo Hà Nội Mới Xem link nguồn

