Đức Phật đản sanh: Thánh cách giác ngộ xuất hiện

Hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, Ấn Độ từng chứng kiến sự xuất hiện của một nhân vật lịch sử mà cách thái giác ngộ đã làm lay động cả một truyền thống tâm linh được tôn sùng thời bấy giờ.

Đó là sự xuất hiện của Đức Phật Sakyamuni Gotama trong bối cảnh nền văn hóa Aryan mà theo lời truyền tụng là “có vô lượng ưu điểm” (aparimānavanno hi so bhavam Gotamo)1, đã hiện thực hóa giấc mơ ngàn năm của Ấn Độ về một nhân cách thánh thiện (Sammāsambuddho)2.

Các tụng văn thuộc Kinh tạng Pāli cho chúng ta biết người Ấn Độ xưa từng ấp ủ những giấc mơ đẹp về một thế giới an lành trong đó xuất hiện các nhà lãnh đạo đất nước và lãnh đạo tôn giáo tài đức đóng vai trò dẫn dắt thế giới loài người đạt đến thái bình thịnh trị. Kinh văn Trung bộ lưu lời Bà-la-môn Brahmāyu nói về truyền thuyết Bà-la-môn để khuyên môn đồ của mình đi dò xét về con người giác ngộ của Đức Phật:

“Này Uttara thân mến, theo Thánh điển của chúng ta được truyền lại về ba mươi hai Đại nhân tướng, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn một trong hai con đường, không có con đường nào khác: nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Nếu xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh đẳng giác, quét sạch mê lầm ở đời”3.

Vâng lời Brahmāyu, thanh niên Uttara theo sát Thế Tôn trong bảy tháng, dò xét toàn bộ con người và mọi hoạt động của Ngài, rồi trở về xác tín với thầy mình rằng Sa-môn Gotama có đầy đủ phẩm chất của một bậc Chánh đẳng giác, đúng như lời truyền tụng4.

Cứ liệu trên và vài nơi khác5 cho thấy truyền thống Bà-la-môn từng ước mong sự xuất hiện của một bậc Chánh đẳng giác (Sammāsambuddho) nhằm xua tan mọi mê lầm ở trên đời. Chính đức tin này đã khiến ẩn sĩ Asita tiên đoán Thái tử Siddhattha sẽ xuất gia thành bậc Giác ngộ6. Một vài vị Bà-la-môn khác7, kể cả đức vua Pasenadi8, cũng tò mò muốn biết Đức Phật có thật sự là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác hay không. Truyền thuyết và đức tin là thế nhưng phần lớn các Bà-la-môn danh tiếng mà Đức Phật có dịp gặp gỡ và trao đổi đều thừa nhận rằng không một vị tôn sư nào của các Bà-la-môn, cho đến bảy đời, thậm chí những vị Bà-la-môn ẩn sĩ tên tuổi như Atthaka, Vāmaka... Bhagu được xem là đã chứng đạt mục tiêu cứu cánh giác ngộ9.

Như vậy, dưới con mắt các phả hệ Bà-la-môn thì Phật hay bậc Giác ngộ (Buddho) chỉ có ở truyền thuyết và đức tin mà chưa hề hiện hữu dưới hình thức một con người. Có lẽ vì thế mà khi trông thấy dấu chân Đức Phật có mỹ tướng xa luân, Bà-la-môn Dona không tin được Ngài là một con người:

- Thưa Sa-môn, Ngài là Tiên chăng?

- Ta không phải là Tiên, này Bà-la-môn.

- Thưa Sa-môn, Ngài là Càn-thát-bà?

- Ta không phải Càn-thát-bà, này Bà-la-môn.

- Vậy Ngài là ai, thưa Sa-môn?

- Này Bà-la-môn, Ta là người, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như thân cây ta-la, không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước và đứng thẳng, không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này Bà-la-môn, sanh ra trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì10.

Lời tuyên bố của Đức Phật rất đáng cho chúng ta lưu ý khi nói về Thánh cách giác ngộ của Ngài, vì Đức Phật giác ngộ, đoạn tận dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, thành tựu phẩm vị Chánh đẳng giác từ vị trí một con người, nghĩa là nhân cách giác ngộ thánh thiện của Ngài hoàn toàn do ý chí, nỗ lực và trí tuệ của con người tạc nên, không cậy vào uy quyền hay ân sủng của thần linh cũng không phải là niềm tin hay giấc mơ của tôn giáo. Sự kiện tu tập và giác ngộ của Đức Phật chứng minh Phật tánh là thiên bẩm của con người, Phật chất nằm trong khả năng tu luyện của mọi người.

Sự kiện tu tập và giác ngộ của Đức Phật chứng minh Phật tánh là thiên bẩm của con người, Phật chất nằm trong khả năng tu luyện của mọi người.

Đáng chú ý rằng trong lãnh vực tâm linh, nhân cách của một con người rất quan trọng. Nó là thước đo của tâm an tịnh hay không an tịnh, có sức cảm hóa sâu sắc.

Đáng chú ý rằng trong lãnh vực tâm linh, nhân cách của một con người rất quan trọng. Nó là thước đo của tâm an tịnh hay không an tịnh11, có sức cảm hóa sâu sắc. Tướng quân Sīha và gia chủ Upāli hoàn toàn thay đổi quan điểm và đức tin của mình ngay sau cuộc đàm đạo lần đầu với Thế Tôn12. Khoa học gia Matthieu Ricard quyết định rời khỏi Viện Pasteur dấn thân vào con đường thực nghiệm tâm linh Phật giáo sau nhiều lần chứng kiến “cách thái an tịnh” của một số hành giả Phật giáo13. Ông quyết định dành nhiều ưu tiên cho mục tiêu chuyển hóa nội tâm, thực nghiệm hạnh phúc tự nội, vì cho rằng văn hóa phương Tây không chú tâm xây dựng con người an tịnh14. “Phương Tây đã tạo ra những nhân vật quan trọng và hấp dẫn về nhiều phương diện, nhưng nhân cách không đi cùng với danh vọng của họ. Một thi sĩ lớn cũng có thể là một kẻ cắp, một nhà bác học cũng có thể luôn bị đau khổ giày vò, một nghệ sĩ cũng có thể đầy ngạo mạn. Rõ ràng, bên cạnh cái tài năng của họ không có chứng cứ về một sự hoàn thiện con người. Tài năng, năng lực tinh thần của họ, không làm cho họ trở thành ngườt tốt”15.

Để thấy rõ hơn Thánh cách giác ngộ của Đức Phật, chúng ta trở lại văn tạng Pāli đề cập bối cảnh xã hội Ấn Độ thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch và tìm xem con người thật của Ngài thể hiện trong 45 năm thuyết pháp độ sinh.

Đối với hầu hết mọi người, hình ảnh gần gũi và thân thương nhất về con người và cuộc đời Đức Phật có lẽ là hình ảnh mỗi ngày Ngài lặng lẽ ôm chiếc bình bát đi khất thực, từng nhà một, không bỏ sót nhà nào, từ nhà này sang nhà khác, kiên trì ròng rã suốt 45 năm. Phật đi khất thực mỗi ngày để chia sẻ và khuyên dạy mọi người về lẽ sống giác ngộ, hạnh phúc an lạc. Bước chân khất thực của Đức Phật không biên giới, vì tâm của Phật giải thoát, rộng lớn, không phân biệt. Không ai ngăn bước chân thanh thoát của Phật, bởi Phật đi khất thực khiến cho mọi người được ấm lòng. Giữa cuộc đời sóng gió không mấy bình yên, ai cũng mong có chỗ nương tựa ấm lòng. Phật đi đến đâu thì người người được hân hoan, nhà nhà được đầm ấm, xứ xứ được thái bình. Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru nhận định rằng: “Đức Phật có cá tính rất đặc biệt đến độ ngày nay người ta vẫn còn nhớ như in mỗi khi nghĩ đến Ngài. Ngài là mẫu người hoàn chỉnh của sự uy nghiêm, thanh thản và dịu dàng, vô vàn trìu mến chúng sinh và thương cảm những kẻ bất hạnh, một con người hoàn toàn tự do về tinh thần và không hề có chút định kiến đối với bất cứ ai”16.

Bối cảnh xã hội Ấn Độ trong đó Đức Phật hoạt động như một nhà truyền giáo là bối cảnh của những cuộc tranh luận tôn giáo và triết học diễn ra khá rầm rộ bởi những chuyển biến xã hội và bởi sự xuất hiện đồng loạt của nhiều tư trào mới. Theo thông tin văn tạng Pāli thì dưới thời Phật tại thế, ngoài các Bà-la-môn cố gắng duy trì các truyền thống lỗi thời của mình và nhóm các nhà Upanisad hoạt động dưới tên gọi những người theo Thường luận (Sassatavādins), hoạt động của các nhóm phái Sa-môn là rầm rộ hơn cả bởi nhiều chủ trương và động cơ khác nhau. Pasenadi và Pilotika mô tả một số họ là những nhà bác học, nghị luận biện tài, đi chỗ này chỗ kia đả phá quan điểm của người khác với trí tuệ của mình, nghe tin Sa-môn Gotama ở đâu thì liền tìm đến để chất vấn và tranh luận17.

Như vậy, bên cạnh nếp sống an tịnh (appasaddakāmo)giáo dục đệ tử thực tập an tịnh (appasaddavādo)18 rất đặc trưng của Ngài, ta có thể hình dung một bầu không khí thách thức tranh luận luôn vây quanh Đức Phật. Niganthaputta Saccaka, tánh ưa tranh luận, tuyên bố với hội chúng của mình trước khi lên đường luận chiến với Sa-môn Gotama: “Ta không thấy một ai khi đối thoại với ta mà không run sợ, không hoảng sợ, không khiếp sợ”19. Upāli, đệ tử của Niganttha Nātaputta, thì huênh hoang sẽ đánh bại Sa-môn Gotama trong cuộc tranh luận20. Người ta cũng thấy các Bà-la-môn và du sĩ đương thời thường phái các học trò đệ tử mình đi điều tra dò xét về Đức Phật21 hoặc kích động xúi giục họ đến tranh luận với Ngài để được nổi danh22.

Tất cả thông tin trên cho ta biết, dù chủ trương không tranh luận, Đức Phật khó tránh được các mũi tên công kích tranh chấp luôn nhắm vào Ngài. Chắc chắn các ý tưởng và lời lẽ đáng tiếc đã có thể tránh đổ xuống một con người an tịnh và yêu mến an tịnh như Đức Phật23, nếu người ta hiểu ra rằng Ngài đã hoàn toàn không còn nghĩ đến hơn thua24, đã tự xem mình như cái chuông bị bể25! Đối với một bậc Giác ngộ như Ngài, việc hơn thua, được mất ở đời không còn là vấn đề để bận lòng. Ngài chỉ thuyết pháp, không tranh luận, không nghĩ thắng bại bởi Ngài hiểu các pháp là vô thường, vô ngã. Thắng hay bại chỉ là một cảm giác gắn liền với ảo tưởng về “tôi” và chỉ hiện diện khi con người chưa nhận ra sự thật duyên sinh vô ngã của hiện hữu. Nhưng khi sự thật vô ngã của tự thân và cuộc đời đã được chứng ngộ rồi thì không có cái “tôi” để thắng hay bại.

Cố Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ Jawaharlal Nehru nói rằng hơn hẳn mọi cuộc tranh luận, nhân cách của Đức Phật đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong dân chúng và ký ức về Người sống mãi trong tâm trí họ. Các niên đại trôi qua nhưng Đức Phật dường như chẳng đi xa mấy; giọng nói của Ngài thầm thì bên tai ta và khuyên nhủ ta đừng bỏ chạy khỏi cuộc đấu tranh, mà phải bình tâm đương đầu với nó, và hãy tìm thấy trong cuộc sống nhiều cơ hội lớn hơn để phát triển và tiến lên.

Tuy nhiên, các thông tin cũng cho thấy Đức Phật đã thu phục những người công kích mình bằng thái độ hòa bình và lòng bao dung rộng lớn. Du sĩ Saccaka cảm thấy hối tiếc vì đã lỗ mãng dám luận chiến với Tôn giả Gotama nhưng đồng thời cũng xác nhận: “Dầu cho Tôn giả Gotama bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ, như một A-la-hán, Chánh đẳng giác”26. Will Durant nói rằng Đức Phật là người “dĩ đức báo oán”. Ai không hiểu Ngài mà nhục mạ thì Ngài chỉ làm thinh. Nếu một người nổi điên lên mà làm hại Ngài thì Ngài dùng tình thương mà che chở cho người đó; người ấy càng làm điều ác cho Ngài thì Ngài càng làm điều thiện cho người âý27.

Đức Phật dùng hiểu biết của bậc Giác ngộ để kham nhẫn mọi công kích và vận dụng tình thương để chuyển hóa bạo tàn28. Ngài sống kham nhẫn mọi sai quấy ở đời và khuyến khích đệ tử mình học tập cách thái tương tự. Người ta nghe Ngài khuyên dạy học trò mình thế này: “Chư Tỷ-kheo, ví như có những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta”29. S. Radhakrishnan cho rằng Đức Phật có đức khoan dung vô hạn. Ngài xem cuộc đời là tối tăm hơn tội lỗi, khát khao hơn bạo loạn. Ngài đối diện nghịch cảnh với tâm tư tỉnh táo và đầy tin tưởng. Ngài không cáu kỉnh hay giận dữ, không bao giờ thốt lời khiếm nhã. Hạnh đức của Ngài là sự thể hiện hoàn hảo tác phong nhã nhặn và cảm giác thương người có đôi chút cứng rắn trong đó30.

Diễn biến các cuộc đối thoại cho thấy Đức Phật tỏ ra rất hòa nhã và sắc bén trong cách lập luận khiến người đối thoại khó vượt qua được Ngài. Tuy nhiên, những cuộc tranh luận thường kết thúc trong không khí hiểu biết và hòa bình bởi chủ trương không thắng bại của bậc Giác ngộ và bởi cách thái từ tốn bao dung của Ngài. Người ta thấy thanh niên Ambattha trở nên chín chắn hơn sau cuộc tranh luận gay gắt với Sa-môn Gotama31. Gia chủ Upāli và tướng quân Sīha, hai vị cựu tín đồ Kỳ-na giáo, thì cảm thấy “hoan hỷ bội phần”, xin quy ngưỡng Tam bảo, bởi cách thái lịch thiệp và tấm lòng bao dung của Thế Tôn32. Người ta cũng thấy Đức Phật đã giữ thể diện cho Bà-la-môn Sonadanda và tránh cho vị này khỏi thương tổn thanh danh và thu nhập bằng cách chấp nhận những cách thái tôn kính riêng biệt mà Sonadanda biểu lộ với Ngài33. Khác với Sonadanda, Bà-la-môn Kūtadanta thì tự nguyện từ bỏ tập tục hiến tế súc vật sau cuộc đàm đạo với Đức Phật, một việc làm chắc chắn khiến ông mất đi phần thu nhập đáng kể trong vai trò một Bà-la-môn chủ tế34.

Thanh niên Assalāyana nêu nhận xét tương tự với hàng trăm Bà-la-môn ở Sāvatthī: 'Sa-môn Gotama là vị nói đúng pháp. Và những ai nói đúng pháp thật rất khó tranh luận'. Với biện thuyết gia Saccaka, 'Tôn giả Gotama vẫn sáng suốt và hoan hỷ trước những lời lẽ chỉ trích và vu khống'.

Thái độ từ tốn, đầy bao dung của Ngài cũng chinh phục bản tính hẹp hòi, cố chấp và ngã mạn thường thấy ở các du sĩ và Bà-la-môn đương thời. Người ta để ý thấy rằng trong lĩnh vực tư tưởng và tôn giáo thời kỳ này xuất hiện một số Bà-la-môn và du sĩ học thức, giỏi biện bác, thích tranh luận. Khi họ nghe Sa-môn Gotama sẽ viếng thăm chỗ này chỗ kia, họ sắp sẵn những câu hỏi với dụng ý sẽ dồn Ngài vào thế bí. Tuy nhiên, khác với dự tính không thân thiện của họ, Thế Tôn đã làm cho họ hoan hỷ với bài pháp thoại. Những người này không còn nêu ra bất kỳ câu hỏi đã dự tính; trái lại, họ trở thành đệ tử của Thế Tôn35. Sử gia Will Durant nói rằng trong các cuộc tranh luận, Đức Phật tỏ ra kiên nhẫn và tôn trọng ý kiến của người khác hơn hết thảy các đại sứ đồ của nhân loại36. Potthapāda thừa nhận với hội chúng du sĩ của mình rằng ông không thể phủ nhận các luận chứng vừa rõ ràng vừa xác đáng của Sa-môn Gotama37. Thanh niên Assalāyana nêu nhận xét tương tự với hàng trăm Bà-la-môn ở Sāvatthī: “Sa-môn Gotama là vị nói đúng pháp. Và những ai nói đúng pháp thật rất khó tranh luận”38. Với biện thuyết gia Saccaka, “Tôn giả Gotama vẫn sáng suốt và hoan hỷ trước những lời lẽ chỉ trích và vu khống”39.

Đối với các Bà-la-môn luôn tự hào về huyết thống của mình và xem thường người khác, Đức Phật dùng nhiều minh chứng phủ bác quan niệm phi lý về phân biệt đẳng cấp. H.W. Schumann nói rằng không phải Đức Phật phản đối hệ thống đẳng cấp nhưng phản đối thái độ tâm lý sai lầm mà người ta đã áp đặt lên những người thuộc giai cấp khác40. Nhận xét của Schumann thật chính xác bởi người ta thấy không ít các Bà-la-môn trí thức đương thời sẵn sàng chấp nhận quan điểm của Đức Phật, nhiều người còn quy y hoặc xuất gia tu học theo giáo lý của Ngài. Đối với họ, Thế Tôn không làm tổn thương phẩm giá Bà-la-môn mà chỉ xác định lại phẩm hạnh của những người tự nhận là Bà-la-môn, thuộc dòng dõi cao quý. Những vị này tự nhận xét về mình: “Quả thực chúng ta suýt nữa bị suy vong. Trong khi trước đây chúng ta không thực sự là Bà-la-môn, lại tự cho mình là Bà-la-môn. Nhưng nay chúng ta mới thực sự là Bà-la-môn”41.

Nhìn chung, Thánh cách giác ngộ mà Đức Phật đã thể hiện trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh, kết quả của sự chuyển hóa bản thân Ngài theo Thánh đạo, đã góp phần nâng cao tầm vóc và vị thế của văn hóa Ấn Độ, ảnh hưởng và tác động tích cực lên cuộc sống của con người và đời sống xã hội, chuyển hóa tâm hồn và cách thái của nhiều người theo ánh sáng giác ngộ. Jawaharlal Nehru nói rằng hơn hẳn mọi cuộc tranh luận, nhân cách của Đức Phật đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong dân chúng và ký ức về Người sống mãi trong tâm trí họ. Các niên đại trôi qua nhưng Đức Phật dường như chẳng đi xa mấy; giọng nói của Ngài thầm thì bên tai ta và khuyên nhủ ta đừng bỏ chạy khỏi cuộc đấu tranh, mà phải bình tâm đương đầu với nó, và hãy tìm thấy trong cuộc sống nhiều cơ hội lớn hơn để phát triển và tiến lên42.

-------------------------------

1 Kinh Ambattha, Trường bộ; kinh Cankī, số 95, Trung bộ.

2 Kinh Ambattha, Trường bộ; kinh Brahmāyu, số 91, Trung bộ.

3 Kinh Brahmāyu, số 91, Trung bộ.

4 Kinh Brahmāyu, số 91, Trung bộ.

5 Kinh Ambattha, Trường bộ; kinh Brahmāyu, số 91, Trung bộ.

6 Kinh An sĩ, Kinh Tập, Tiểu bộ.

7 Kinh Ambattha, Trường bộ; kinh Brahmāyu, số 91, kinh Sela, số 92, Trung bộ.

8 Kinh Tuổi trẻ, Tương ưng bộ.

9 Kinh Cankī, số 95, Trung bộ.

10 Kinh Tùy thuộc thế giới, Tăng chi bộ.

11 Kinh Bà-la-môn cư sĩ, kinh Channa, Tăng chi bộ.

12 Kinh Tướng quân Siha, Tăng chi bộ; kinh Upāli, số 56, Trung bộ.

13 Hồ Hữu Hưng, Đối thoại giữa Triết học & Phật giáo, tr. 29-30, 34.

14 Hồ Hữu Hưng, Đối thoại giữa Triết học & Phật giáo, tr. 31-32.

15 Hồ Hữu Hưng, Đối thoại giữa Triết học & Phật giáo, tr. 22.

16 Phạm Thủy Ba, Phát hiện Ấn Độ, tập I, tr. 212.

17 Tiểu kinh Ví dụ dấu chân voi, số 27, kinh Pháp trang nghiêm, 85, Trung bộ.

18 Kinh Ưu Đàm Bà La sư tử hống, Trường bộ; kinh Mahā-Sakuludayi, số 77, kinh Sananamandika, số 78, Tiểu kinh Thiện Sanh Ưu Đà Di, số 79, Trung bộ.

19 Tiểu kinh Saccaka, 35, Trung bộ.

20 Kinh Upāli, 56, Trung bộ.

21 Kinh Ambattha, Trường bộ; kinh Brahmāyu, số 91, Trung bộ.

22 Kinh Upāli, số 56, kinh Vô Úy vương tử, số 58, kinh Assalayana, 93, Trung bộ.

23 Kinh Ưu Đàm Bà La sư tử hống, Trường bộ; kinh Mahā-Sakuludayi, số 77, kinh Sananamandika, số 78, Tiểu kinh Thiện Sanh Ưu Đà Di, số 79, Trung bộ.

24 Kinh Pháp cú, kệ số 201.

25 Kinh Pháp cú, kệ số 134.

26 Đại kinh Saccaka, số 36, Trung bộ.

27 Nguyễn Hiến Lê, Lịch sử Văn minh Ấn Độ, tr. 78.

28 Kinh Pháp cú, kệ số 223.

29 Kinh Ví dụ cái cưa, số 21, Trung bộ.

30 S. Radhakrishnan, The Dhammapada, tr. 12-13.

31 Kinh Ambattha, Trường bộ.

32 Xem kinh Upāli, số 56, Trung bộ; kinh Tướng quân Sīha, Tăng chi bộ.

33 Kinh Sonạdanda, Trường bộ.

34 Kinh Kūtadanta, Trường bộ.

35 Lời tường thuật của du sĩ Pilotika trong Tiểu kinh Ví dụ dấu chân voi, số 27, và của quốc vương Pasenadi trong kinh Pháp trang nghiêm, số 89, Trung bộ.

36 Nguyễn Hiến Lê, Lịch sử Văn minh Ấn Độ, tr. 78.

37 Kinh Potthapāda, Trường bộ.

38 Kinh Assalayana, số 93, Trung bộ.

39 Đại kinh Saccaka, số 36, Trung bộ.

40 H. W. Schumann, The Historical Buddha, tr. 193.

41 Tiểu kinh Ví dụ dấu chân voi, số 27, kinh Pháp trang nghiêm, số 89, Trung bộ.

42 Phạm Thủy Ba, Phát hiện Ấn Độ, tập I, tr. 204, 211.

Tỷ-kheo Thích Tâm Minh/Báo Giác Ngộ

Nguồn Giác ngộ: https://giacngo.vn/duc-phat-dan-sanh-thanh-cach-giac-ngo-xuat-hien-post79923.html