Gia Lai - nhìn từ văn hóa biển

Những khảo cứu về lịch sử hàng hải Việt Nam cho thấy biển từng góp phần kiến tạo kinh tế, văn hóa và quyền lực ở miền Trung. Gia Lai có điều kiện xây dựng một không gian phát triển liên hoàn, đưa kinh tế - văn hóa biển và công nghiệp văn hóa trở thành những động lực tăng trưởng mới.

 Gia Lai có điều kiện đưa kinh tế biển, văn hóa biển và công nghiệp văn hóa trở thành những động lực tăng trưởng mới. Trong ảnh: Một góc biển trời Nhơn Châu. Ảnh: Nguyễn Dũng

Gia Lai có điều kiện đưa kinh tế biển, văn hóa biển và công nghiệp văn hóa trở thành những động lực tăng trưởng mới. Trong ảnh: Một góc biển trời Nhơn Châu. Ảnh: Nguyễn Dũng

Trong Việt Nam hướng biển: Từ thời kỳ sơ khai đến thế kỷ XIX, TS Li Tana - nhà sử học, nhà Việt Nam học nổi tiếng người Úc gốc Trung Quốc - cho rằng lịch sử Việt Nam không thể chỉ được nhìn từ đồng bằng, làng xã và nền kinh tế nông nghiệp. Biển, thương mại hàng hải và các mối liên hệ liên vùng đã tác động sâu sắc đến những biến chuyển kinh tế, chính trị và văn hóa của đất nước. Từ cách tiếp cận ấy, lịch sử Gia Lai hôm nay cần được đặt trong quan hệ giữa cao nguyên, lưu vực sông, cửa biển và Biển Đông.

1.

Trong lịch sử Champa, các trung tâm quyền lực thường gắn với các cảng thị. Thị Nại - Quy Nhơn là một mắt xích quan trọng, gắn với kinh đô Vijaya, lưu vực sông Côn và những tuyến giao thương đi sâu vào nội địa. Lâm sản, trầm hương, sáp ong và nhiều sản vật quý từ cao nguyên được đưa xuống duyên hải, tiếp tục tham gia mạng lưới thương mại trên Biển Đông. Theo chiều ngược lại, hàng hóa, kỹ thuật, tôn giáo và những dòng tư tưởng từ bên ngoài theo cửa biển, sông ngòi và đường xuyên sơn đi vào nội địa.

Từ thế kỷ XVII - XIX, mạng lưới giao thương này tiếp tục được duy trì và phát triển với sự tham gia của thương nhân Việt, Chăm và Hoa. Các thuyền buôn của người Hoa đến cửa Thị Nại, Quy Nhơn và những điểm giao thương ven biển, đưa theo hàng hóa, vốn, kỹ thuật và tập quán kinh doanh; đồng thời thu mua sản vật địa phương để phân phối đến các thị trường khác. Sự hiện diện của cộng đồng người Hoa tại An Thái, Nước Mặn và một số khu vực thuộc An Nhơn, Tuy Phước cho thấy thương mại biển không dừng ở cửa cảng mà còn tạo nên các tuyến kết nối với chợ, phố và làng nghề trong nội địa.

Sau sáp nhập, dải ven biển phía Đông không chỉ là phần không gian mới được bổ sung về mặt hành chính. Đây là cửa ngõ giúp toàn tỉnh kết nối với Biển Đông. Trục Quy Nhơn - An Nhơn - Tây Sơn - An Khê - Pleiku, với cảng Quy Nhơn và QL19 làm hạt nhân, cần được quy hoạch thành hành lang kinh tế - văn hóa Đông Tây, hiện đại hóa mối liên hệ đã được lịch sử kiến tạo giữa đại ngàn và đại dương.

2.

Di sản hàng hải của vùng đất này được thể hiện sinh động qua ghe bầu - loại thuyền buồm từng phổ biến trên dải biển Đàng Trong từ thế kỷ XVI đến XIX. Với thân rộng, sức chứa lớn và khả năng thích ứng với sóng gió miền Trung, ghe bầu từng đảm nhiệm việc vận chuyển lương thực, muối, nước mắm, đồ gốm, lâm sản cùng nhiều loại hàng hóa giữa các cảng thị ven biển. Ghe bầu không chỉ là phương tiện vận tải mà còn là sản phẩm của quá trình giao lưu kỹ thuật, văn hóa giữa các cộng đồng Việt, Chăm và cư dân Đông Nam Á.

Bên cạnh ghe thuyền, di sản biển còn tồn tại trong vốn tri thức của cộng đồng ngư dân. Đó là kinh nghiệm quan sát mây, gió, con nước và dòng chảy, nhận biết mùa cá, luồng cá, lựa chọn thời điểm ra khơi, xác định phương hướng bằng mặt trời, trăng, sao và dấu hiệu tự nhiên. Đó còn là kỹ thuật đóng, sửa thuyền, đan lưới, chế biến, bảo quản hải sản, làm nước mắm và tổ chức lao động theo từng mùa biển.

Những kinh nghiệm ấy không tồn tại riêng lẻ mà gắn với tập quán và đời sống tinh thần của làng biển như lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, hát bả trạo, nghi lễ trước khi ra khơi và tinh thần tương trợ khi gặp hoạn nạn. Đây là một hệ thống tri thức - tín ngưỡng - sinh kế được tích lũy qua nhiều thế hệ, phản ánh cách cộng đồng ứng xử hài hòa với biển.

Tuy nhiên, trước sự thay đổi quá nhanh do công nghệ tác động, Gia Lai nên sớm kiểm kê, ghi âm, ghi hình và số hóa tri thức; phục dựng mô hình ghe bầu; sưu tầm tư liệu về các thuyền buôn người Hoa; xây dựng bản đồ làng biển, nghề biển và tín ngưỡng biển. Đây là nền tảng để bảo tồn di sản và phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa.

3.

Khi đặt mục tiêu phát triển hướng biển, biển cần được Gia Lai nhìn trong một hệ sinh thái gồm cảng biển, logistics, làng nghề, văn hóa biển, du lịch, di sản, công nghiệp sáng tạo và liên kết với vùng nguyên liệu cao nguyên. Gia Lai có thể hình thành không gian diễn giải di sản hàng hải tại Quy Nhơn - Thị Nại, giới thiệu lịch sử cảng thị, thuyền buôn người Hoa, kỹ thuật hàng hải Champa và đời sống làng chài.

Việc kết hợp hiện vật với bản đồ số, phim tư liệu, thực tế ảo và trải nghiệm đóng thuyền, đan lưới, làm nước mắm sẽ giúp di sản trở nên gần gũi với công chúng. Từ nguồn tư liệu ấy, có thể phát triển phim tài liệu, hoạt hình, trò chơi số, sản phẩm lưu niệm, thời trang…

 Gia Lai có thể hình thành không gian diễn giải di sản liền mạch từ biển xanh đến đại ngàn với những nét riêng có. Trong ảnh: Tàu du lịch quốc tế đưa khách đến với Quy Nhơn. Ảnh: Nguyễn Dũng

Gia Lai có thể hình thành không gian diễn giải di sản liền mạch từ biển xanh đến đại ngàn với những nét riêng có. Trong ảnh: Tàu du lịch quốc tế đưa khách đến với Quy Nhơn. Ảnh: Nguyễn Dũng

Mấy năm gần đây, du lịch địa phương đang có hướng chuyển từ nghỉ dưỡng đơn thuần sang trải nghiệm văn hóa. Nhìn ở vỏ hình thức “đại ngàn chạm biển xanh” là chủ đề có thể nhìn thấy ở nhiều địa phương - nhất là ở dọc dài miền Trung. Nhưng khi kết nối Pleiku - An Khê - Tây Sơn - thành Hoàng Đế - Thị Nại - Quy Nhơn, đưa du khách trải nghiệm đồng thời cồng chiêng, di sản Tây Sơn, văn hóa Champa, làng nghề và đời sống biển - có thể nói không tỉnh thành nào sánh lại với Gia Lai. Bởi vậy, phát triển kinh tế và văn hóa biển phải đi đôi với bảo vệ nguồn lợi, môi trường và không gian sinh kế của cộng đồng.

Nhìn Gia Lai từ biển là nhận diện lại một không gian lịch sử và phát triển liên hoàn từ cao nguyên đến duyên hải. Trong không gian ấy, ký ức chính là nguồn tài nguyên sáng tạo cho hiện tại. Nếu được kiểm kê, số hóa và chuyển hóa thành sản phẩm giáo dục, du lịch, thiết kế và truyền thông, di sản biển có thể trở thành một thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa Gia Lai.

Đây cũng là cơ sở để câu chuyện “đại ngàn - đại dương” của tỉnh không phải chỉ để kể một vài năm, mà ngược lại khi kết hợp chiều sâu di sản với kinh tế biển, bảo vệ sinh thái và nâng cao sinh kế cộng đồng - đó là câu chuyện của rất nhiều thập niên.

TS VÕ MINH HẢI

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/gia-lai-nhin-tu-van-hoa-bien-post594488.html