Giảm phát thải, tăng giá trị: Lời giải mới cho hạt gạo Việt

Với sản lượng khoảng 43 triệu tấn mỗi năm, lúa gạo Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn đối mặt thách thức giảm phát thải. Các giải pháp công nghệ và thị trường carbon đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành.

Quảng cảnh hội thảo

Quảng cảnh hội thảo

Kết nối khoa học và doanh nghiệp cho mục tiêu lúa gạo phát thải thấp

Ngày 27/2, Học viện Nông nghiệp Việt Nam phối hợp với Tổ chức Nghiên cứu Nông nghiệp và Thực phẩm Quốc gia Nhật Bản tổ chức Hội thảo quốc tế “Thúc đẩy sản xuất lúa phát thải carbon thấp thông qua quan hệ đối tác Nhật Bản – Việt Nam: Kết nối khoa học với đổi mới sáng tạo trong kinh doanh”.

Phát biểu tại hội thảo, GS.TS Phạm Văn Cường - Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia sản xuất và xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, với diện tích gieo trồng khoảng 7,1 triệu ha, sản lượng đạt xấp xỉ 43 triệu tấn mỗi năm. Quy mô này không chỉ bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, mà còn góp phần quan trọng vào chuỗi cung ứng gạo toàn cầu.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều quốc gia gia tăng cam kết giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời siết chặt các tiêu chuẩn môi trường đối với nông sản nhập khẩu, ngành lúa gạo Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi theo hướng xanh và bền vững hơn. Theo GS.TS Phạm Văn Cường, đây không chỉ là áp lực từ hội nhập, mà còn là cơ hội để tái cơ cấu sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và củng cố vị thế hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, Việt Nam đang triển khai đồng bộ nhiều chiến lược và chương trình hành động nhằm hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Trong lộ trình này, phiên bản cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 3.0), dự kiến ban hành năm 2026, sẽ cụ thể hóa mục tiêu giảm phát thải cho từng lĩnh vực, trong đó có trồng trọt và sản xuất lúa gạo. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng giải pháp kỹ thuật, hoàn thiện cơ chế chính sách và phân bổ nguồn lực phù hợp, bảo đảm ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng trong khi giảm dần cường độ phát thải.

Một trong những chương trình trọng điểm đang được triển khai là Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2024. Mục tiêu đến năm 2030 hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, áp dụng quy trình canh tác tiên tiến nhằm giảm phát thải, giảm chi phí đầu vào và nâng cao giá trị sản phẩm. Dự kiến, mô hình này có thể giảm trên 10% lượng phát thải khí nhà kính so với phương thức canh tác truyền thống.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hương, phát triển sản xuất lúa phát thải thấp không chỉ góp phần bảo vệ môi trường và thực hiện cam kết khí hậu, mà còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Khi tối ưu hóa sử dụng giống, phân bón và nước tưới, người trồng lúa có thể giảm đáng kể chi phí sản xuất, đồng thời nâng cao chất lượng hạt gạo. Sự cải thiện về chất lượng và tính bền vững trong quy trình canh tác sẽ giúp gạo Việt Nam đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, qua đó gia tăng năng lực cạnh tranh.

Bà Hương nhấn mạnh, việc tăng cường hợp tác với Nhật Bản và các đối tác quốc tế được kỳ vọng sẽ bổ sung nguồn lực về tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, qua đó đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nền sản xuất lúa gạo xanh, phát thải thấp, vừa bảo đảm an ninh lương thực, vừa nâng cao giá trị hạt gạo trong dài hạn.

Mở rộng dư địa từ công nghệ và thị trường carbon

Tại hội thảo, TS. Atsuro Matsuda, Cố vấn của NARO, Giám đốc Dự án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp thuộc Chương trình BRIDGE (Nhật Bản) giới thiệu một trong những giải pháp kỹ thuật nổi bật là phương pháp tưới ngập – khô xen kẽ (AWD). Đây là kỹ thuật đã được tích hợp vào Chương trình tín chỉ carbon J-Credit của Nhật Bản, cho phép lượng giảm phát thải được đo đếm và ghi nhận trong cơ chế thị trường carbon.

Thực tiễn triển khai tại Philippines cho thấy, áp dụng AWD có thể giảm khoảng 30% lượng phát thải methane so với phương thức canh tác truyền thống, trong khi năng suất lúa vẫn được bảo đảm ổn định. Theo TS. Matsuda, điều này cho thấy tiềm năng lớn của các giải pháp kỹ thuật trong việc kết hợp mục tiêu giảm phát thải với duy trì hiệu quả sản xuất.

Ở góc độ doanh nghiệp, Anh hùng Lao động Trần Mạnh Báo, Chủ tịch VSTA, Chủ tịch ThaiBinh Seed nhận định, Nhật Bản – với nền nông nghiệp công nghệ cao, hệ thống quản trị carbon tiên tiến và tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt – là đối tác chiến lược của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất lúa gạo phát thải thấp.

Theo ông Báo, hai bên có thể hợp tác sâu hơn trong chuyển giao công nghệ đo đếm và kiểm kê phát thải, nghiên cứu, chọn tạo giống phù hợp với mô hình canh tác ít phát thải, cũng như phát triển thị trường gạo carbon thấp. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi giá trị sẽ là nền tảng để nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam.

PGS.TS Mai Quang Vinh, Viện trưởng Viện Công nghệ xanh cho biết, mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 43–45 triệu tấn thóc, tương đương 26–28 triệu tấn gạo, trong đó xuất khẩu 5–7 triệu tấn. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất trọng điểm, đóng góp 50% tổng sản lượng và tới 90% lượng gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, sản xuất lúa cũng là nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể, đòi hỏi quá trình chuyển đổi phải được thực hiện một cách bài bản.

Theo ông Vinh, các mô hình canh tác tiên tiến cho thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt. Khi tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm lượng giống gieo sạ và sử dụng hợp lý phân bón, nước tưới, nông dân có thể gia tăng lợi nhuận từ 12–50%, trong khi năng suất vẫn được duy trì hoặc cải thiện. Bên cạnh lợi ích môi trường, đây là động lực quan trọng để người dân chủ động tham gia chuyển đổi.

Đáng chú ý, sản xuất lúa phát thải thấp còn mở ra cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon – một lĩnh vực được dự báo sẽ phát triển mạnh trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu. Đồng thời, đây cũng là nền tảng để phát triển các dòng sản phẩm giá trị gia tăng cao như gạo hữu cơ, gạo carbon thấp, từng bước nâng tầm thương hiệu gạo Việt Nam.

Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi một cách thực chất, PGS.TS Mai Quang Vinh cho rằng cần hoàn thiện khung cơ chế, chính sách hỗ trợ đồng bộ, bao gồm tín dụng xanh, bảo hiểm nông nghiệp, xây dựng và vận hành hiệu quả thị trường carbon, cũng như phát triển hạ tầng đo đếm, giám sát và kiểm chứng phát thải. Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân yên tâm đầu tư dài hạn.

Hồng Hạnh

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/giam-phat-thai-tang-gia-tri-loi-giai-moi-cho-hat-gao-viet-178230.html