Giáo viên trung học nghề được xếp lương thế nào theo quy định mới?
Theo quy định mới của Bộ GD&ĐT, giáo viên trung học nghề được chia thành 3 hạng chức danh, áp dụng hệ số lương từ 2,10-6,78. Với mức lương cơ sở hiện hành là 2,53 triệu đồng/tháng, tiền lương theo hệ số cao nhất khoảng 17,15 triệu đồng/tháng, chưa tính các khoản phụ cấp.
Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 64/2026/TT-BGDĐT quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề. Thông tư có hiệu lực từ ngày 10-8-2026.

Thông tư mới góp phần phát triển đội ngũ giáo viên trên toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Ảnh: Nhã Uyên
Theo đó, quy định về bổ nhiệm, xếp lương áp dụng đối với giáo viên trung học nghề tại trường trung học nghề, trường trung cấp, trường cao đẳng và cơ sở giáo dục đại học công lập có tổ chức thực hiện chương trình giáo dục trung học nghề. Thông tư không áp dụng đối với giáo viên trung học nghề trong các cơ sở thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Điểm mới đáng chú ý là giáo viên trung học nghề có 3 hạng chức danh riêng, gồm: hạng III, mã số V.09.02.14; hạng II, mã số V.09.02.13 và hạng I, mã số V.09.02.12.
Đây là lần đầu chức danh riêng của giáo viên trung học nghề được xác định theo 3 hạng, đồng bộ với hệ thống chức danh nhà giáo trong giáo dục quốc dân.
Về tiền lương, viên chức được bổ nhiệm vào chức danh giáo viên trung học nghề tiếp tục áp dụng bảng lương ban hành kèm Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.
Cụ thể, giáo viên trung học nghề hạng III được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A0, từ 2,10-4,89, nếu có trình độ cao đẳng hoặc có năng lực thực hành nghề theo quy định. Trường hợp có trình độ đại học trở lên được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A1, từ 2,34-4,98.
Giáo viên trung học nghề hạng II áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.2, từ 4,00-6,38. Trong khi đó, giáo viên trung học nghề hạng I áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.1, từ 4,40-6,78. Đây là khung hệ số cao nhất trong 3 hạng.
Từ ngày 1-7-2026, theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP, mức lương cơ sở được nâng từ 2,34 triệu đồng lên 2,53 triệu đồng/tháng. Do đó, nếu tạm tính tiền lương theo công thức hệ số lương nhân mức lương cơ sở hiện hành, các khung trên tương ứng khoảng:
Hạng III, viên chức loại A0: 5,31-12,37 triệu đồng/tháng.
Hạng III, viên chức loại A1: 5,92-12,60 triệu đồng/tháng.
Hạng II: 10,12-16,14 triệu đồng/tháng.
Hạng I: 11,13-17,15 triệu đồng/tháng.
Các con số trên là mức tính theo hệ số lương × lương cơ sở 2,53 triệu đồng, chưa bao gồm phụ cấp, tiền thưởng và các khoản được hưởng khác theo quy định.
Thông tư số 64/2026/TT-BGDĐT cũng quy định nguyên tắc giáo viên được bố trí vào vị trí việc làm nào thì được bổ nhiệm vào hạng chức danh tương ứng với vị trí việc làm đó và phải đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của hạng được bổ nhiệm.
Người được tuyển dụng, tiếp nhận được bổ nhiệm và xếp lương tương ứng với hạng chức danh theo vị trí việc làm được tuyển dụng, tiếp nhận.
Đối với đội ngũ đã có chức danh nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, Thông tư quy định cụ thể việc chuyển sang các hạng mới. Theo đó, giáo viên giáo dục nghề nghiệp lý thuyết hạng III, giáo viên giáo dục nghề nghiệp thực hành hạng III, giáo viên trung cấp hạng III và giáo viên sơ cấp hạng II được bổ nhiệm vào giáo viên trung học nghề hạng III.
Giáo viên giáo dục nghề nghiệp chính hạng II và giáo viên sơ cấp hạng I được bổ nhiệm vào giáo viên trung học nghề hạng II. Giáo viên giáo dục nghề nghiệp cao cấp hạng I và giáo viên trung cấp hạng II được bổ nhiệm vào giáo viên trung học nghề hạng I.
Đáng chú ý, việc chuyển sang chức danh giáo viên trung học nghề không có nghĩa tất cả giáo viên sẽ được xếp lại từ bậc đầu của khung lương. Thông tư quy định việc xếp lương phải căn cứ hạng chức danh, Thông tư số 02/2007/TT-BNV về xếp lương khi nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức, viên chức và các quy định pháp luật hiện hành.
Khi Nhà nước thực hiện chính sách tiền lương mới, việc chuyển xếp sang lương mới đối với giáo viên trung học nghề sẽ thực hiện theo quy định của Chính phủ.
