Giọng thơ reo vui trên thành phố cảng
Trương Minh Hiếu đến với thơ như được trở về sau một chuyến đi xa. Minh Hiếu từng tham gia lớp đào tạo năng khiếu sáng tác văn học từ năm 13 tuổi. Năm 16 tuổi đã đoạt giải B cuộc thi sáng tác văn học 'Em yêu đồng ruộng quê em' do Báo Thiếu niên Tiền phong tổ chức (1982). Lại có một cuộc viễn du dài ngày sang ngành khoa học công nghệ, tốt nghiệp kỹ sư Hàn và Công nghệ kim loại, rồi lại kiếm sống bằng nghề 'giám đốc Bảo hiểm nhân thọ'.

Nhà thơ Trương Minh Hiếu (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng) chia sẻ về 3 tập thơ tại chương trình “Bàn tròn văn chương" tổ chức tháng 4/2026. Ảnh: NVCC
Thật khó hình dung trong vóc dáng một người đàn ông to cao, gương mặt điển trai, nụ cười thân thiện luôn nở trên môi, dễ mến dễ gần, xuất thân từ quê lúa Thái Bình, trưởng thành ở thành phố cảng Hải Phòng, phải cố kìm nén niềm say mê cháy bỏng đối với văn chương, để lăn lộn, xuôi ngược trên các nẻo đường đời vì miếng cơm manh áo.
Trở về với thơ bằng vốn sống
Chăm chỉ cày cuốc kiếm sống, thi thoảng có những cuộc “xé rào, tạt ngang”, anh làm thơ in báo. Mãi cho đến năm 58 tuổi, anh mới có tập thơ đầu tay Cội (2024), như một lời tuyên bố cho chuyến trở về với thơ. Rồi liên tục ghi tên mình trên bìa những tập thơ được văn giới và bạn đọc chú ý như Đi qua mỗi ngày tôi (2025), Ru mình (2025), Thả gió qua sông (2026).
Thơ luôn cần cảm xúc tươi non, nên phần lớn nhà thơ thành công từ khi còn rất trẻ. Về già, nếu có tình duyên với thơ không thể dứt, người ta thường gom nhặt cảm xúc trên từng chặng đường đời đã đi qua, để in một tập cho vui. Không ai lại liên tục chỉ trong vài năm có đến 4 tập thơ, tập nào cũng dày hơn 200 trang như Trương Minh Hiếu.
Trong đó, chỉ tập đầu có khoảng một phần ba là những bài thơ cũ, từng in trên các báo, được anh sưu tập lại, còn lại là thơ mới được tác giả sáng tác vào cái tuổi chớm sang “lục thập nhi nhĩ thuận”. Vậy mà thơ vẫn hay. Tác giả đã khẳng định được rằng, hành trình trở về với thơ ca của mình là chính đáng, đúng đắn và đáng được ghi nhận. Cảm xúc vẫn nặng đầy, tươi trẻ. Ngôn từ vẫn súc tích, hiện đại. Hình tượng vẫn sinh động, gọi mời. Cảm thức vẫn tinh tế... Nói chung, dưới từng lớp sóng ngôn từ vẫn là những sinh thể nghệ thuật thao túng một cách mạnh mẽ và trọn vẹn thế giới tâm hồn của nhiều người đọc.
Trong hành trình trở về của người thơ Trương Minh Hiếu, là cả một gia tài vốn sống được tích lũy mấy chục năm “quăng quật trong cuộc sống đời thực” (chữ của nhà thơ Kim Chuông), biến thành nội dung mỹ cảm dệt nên những vỉa tầng cảm thức, đầy ứ trong tâm hồn, dồn nén mãi không thể nào chịu nổi, buộc phải nói ra, như nhu cầu tự thân của một người có khát vọng giãi bày, người lúc nào cũng chực chờ ở các ngả đường đời, lại "chẳng muốn đường quang mà lại muốn đâm quàng bụi rậm". Như là sự thể hiện quy luật tình cảm về cuộc sống đời thường, thơ Hiếu dạt dào về tình yêu tha thiết đối với quê hương, mẹ cha, vợ con, tình yêu đôi lứa và có cả những suy tư có tính chất triết luận về thân phận con người, những đối thoại, tự vấn có ý nghĩa nhân sinh.
Cả bốn tập thơ đều xoay quanh những vấn đề ấy, nhưng từng tập là từng chỉnh thể nghệ thuật có sự biến hóa ảo diệu. Hai tập thơ đầu tay, theo tôi chỉ là sự ướm thử, là bước thử nghiệm, tìm đường và đơn thuần là nhằm giãi bày tâm trạng. Dù vậy, sức liên tưởng trong thơ đã được đẩy đến mức cao trào, thể hiện sự nhuần nhuyễn của cả cảm xúc lẫn tư duy. Đây là cách lý giải của nhà khoa học tự nhiên đang sống trên thành phố biển, về hiện tượng trong bài thơ Nước biển, nhưng bỗng nhiên đến câu cuối lại lấp lánh hiện hình cảm thức của nhà thơ: "Rồi một ngày em sẽ hiểu ra/ Nước biển không xanh như ta từng biết/ Thăm thẳm xanh là độ sâu từ đáy nước/ Là sắc trời in mây với gió thanh bình/ Hãy vục lên và đặt trước mặt mình/ Hai bàn tay đầy nước/ Ấy là khi đến tận cùng sự thực/ Nước biển trong veo như nước mắt người đời".
Đong đưa cùng lục bát
Sau cuộc ướm thử, người thơ đã tìm ra sở trường, sở đoản của mình, nên hai tập thơ sau Trương Minh Hiếu gieo mình vào nhịp bồng bềnh của câu thơ lục bát. Đó mới chính là sở trường của giọng điệu tâm hồn anh, là “áo xống” của thơ anh. Ai cũng biết, lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc, dễ làm nhưng khó hay. Cái hay trước tiên của Trương Minh Hiếu là có thể la đà với câu thơ lục bát đem “phổ” vào với mọi cung bậc cảm xúc, mọi quan hệ tình cảm trong cuộc sống đời thường. Lục bát của anh luôn chuẩn về câu chữ, âm vận, nhịp điệu... nghĩa là được sáng tạo giữ đúng “luật chơi” dẫu có đong đưa, bồng bềnh, trôi miên man trong mọi chiều kích, giao lộ và chiều sâu của nội dung mỹ cảm. Vì vậy, hình tượng thơ luôn chuyển động theo cấp số nhân, khi được sinh ra từ những lớp sóng ngôn từ luôn lay động, đong đưa: "Nhà tôi bên ấy sông Hồng/ Gió mênh mông gió, mây bồng bềnh mây" (Thả gió qua sông).
Lục bát của Trương Minh Hiếu không biến thể, không cố tình làm mới một cách điệu đàng về câu chữ, không ngắt câu, xuống dòng, đảo ngữ, chuyển dịch vị trí điểm nhìn... Nhưng lại có kết cấu thả lỏng, mở ra không gian rộng lớn ở những câu “thòng” cuối mỗi bài thơ, để tạo điều kiện cho thế giới hình tượng phái sinh trong trí tưởng tượng của người đọc.
Ví như, bài Cafe một mình, với ba khổ thơ, mỗi khổ bốn câu, thể hiện trọn vẹn nội dung mỹ cảm của bài thơ, nhưng trước khi kết thúc, lại “thả” xuống thêm hai câu nhằm nâng tầm tư tưởng của bài thơ lên một chiều kích mới: "Bỗng dưng trời đổ mưa rào/ Bao nhiêu xưa cũ tràn vào cạn ly". Bài Lại gần ta để có nhau cũng có ba khổ thơ và kết thúc thêm hai câu khá hiện sinh: "Cuộc đời có được là bao/ Một lần gần, để có nhau ngàn lần...".
Trong số hơn một trăm bài lục bát trong hai tập thơ của Trương Minh Hiếu, có đến hơn phân nửa là những bài thơ có kết thúc bằng hai câu cuối nằm riêng như một khổ thơ chỉ có hai câu. Những kết thúc như vậy, khi đọc xong bài thơ, người đọc có cảm giác bài thơ chưa kết thúc, đồng thời nhận ra ý nghĩa triết luận, không chỉ nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của bài thơ, mà còn lay động, gợi mở chân trời xanh thẳm cho trí tưởng tượng và sức liên tưởng của người đọc.
Với văn xuôi, người ta thường nói là viết văn. Còn đối với thơ, ít khi người ta nói viết thơ mà là làm thơ. Nghĩa là động thái của sự thể hiện, một phép ứng xử khác, như tự trải lòng mình ra trang giấy. Khác với các thể thơ khác, đối với lục bát, phép ứng xử trải lòng của Trương Minh Hiếu dường như cẩn trọng hơn, khi trong rất nhiều bài thơ, anh cố giữ nguyên khối của một chỉnh thể vừa được sáng tạo, không loay hoay tìm kiếm tựa đề, mà lấy ngay câu đầu hoặc câu ở khổ thơ cuối làm tựa đề cho bài thơ.
Tôi nhớ, trong thơ cổ phương Đông có câu “họa long điểm nhãn”, thì với anh, dường như anh đã nhận ra “thi nhãn” bài thơ lục bát của mình cũng phải bồng bềnh, đong đưa đầy sức lay động của nhịp điệu câu thơ. Rất nhiều những tựa đề như Chỉ là một thoáng mưa bay, Chiều mang bóng nắng xa dần, Ta về trên lối ngày xưa, Nơi này ta đã từng quen, Cho nhau cầm lấy thật thà, Sen tàn chớ vội buồn mau... khi đọc lên, có thể cảm nhận sự lay động, long lanh và mềm mại như chính những vỉa tầng trầm tích trong chiều sâu hiện tượng đời sống, thể hiện ý nghĩa văn hóa nhân văn, đã đánh thức tâm hồn thi nhân, thôi thúc sự sáng tạo.
Tất nhiên, không bao giờ có sự hoàn hảo mọi điều đối với người sáng tạo. Bởi lẽ, văn chương là quãng đường dài, người lữ hành không bao giờ cán đích. Là người ít đọc thơ, nhưng yêu thích thơ Trương Minh Hiếu, tôi vẫn mong mỏi rằng, anh vẫn sẽ còn giữ mãi niềm đam mê với văn chương, vẫn sẽ lặng lẽ đi tiếp trên con đường đã chi chít những dấu chân, mà vẫn tìm được nơi để in dấu chân mình một cách rõ nét, theo kiểu rất riêng vốn có của Trương Minh Hiếu.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/giong-tho-reo-vui-tren-thanh-pho-cang-3346932.html












